Trận tuyến thầm lặng trong Trại Davis

“Cuốn hồi kí của mình chỉ để tặng gia đình và bạn bè. Lời đề tặng cậu, mình ghi đơn giản như thế này nhé: “Kỷ niệm với đồng chí Trần Duy Hiển, ngày 14-4-2016”… Ông kí tên “Vũ Nam Bình” và trang trọng trao cho tôi. Không khỏi ngạc nhiên và nể phục bởi ở độ tuổi 88, nét chữ của ông vẫn rắn rỏi và quyết đoán lắm.

Ông tên thật là Nguyễn Văn Khả, nguyên Trưởng ban bảo vệ an ninh của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Trại Davis – Tân Sơn Nhất (Sài Gòn, thời kì 1973-1975)…

Như một căn duyên, tôi quen biết Đại tá Vũ Nam Bình đã lâu và từng nhiều lần dự các cuộc gặp mặt tại Hà Nội của cựu chiến binh Ban liên hợp quân sự Trại Davis. Thời gian trôi đi, các cựu chiến binh đều đã ở độ tuổi xấp xỉ 70 – 90. Ngoài những hoạt động kỉ niệm chính thức, Ban liên lạc tại Hà Nội gồm Đại tá Vũ Nam Bình, Đại tá Đinh Quốc Kỳ, ông Phạm Lãi và một số người thường gặp gỡ, hàn huyên những kỉ niệm, bàn chương trình hoạt động, thăm hỏi đồng chí, đồng đội khi có việc vui, buồn. 

Đại tá Vũ Nam Bình (Nguyễn Văn Khả).
Đại tá Vũ Nam Bình (Nguyễn Văn Khả).

Năm 2011, Đoàn Đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, vì những đóng góp to lớn vào việc thi hành Hiệp định Paris nói riêng và sự nghiệp thống nhất đất nước nói chung. Hai phái đoàn này từng có mặt tại “Trại Davis” trong sân bay Tân Sơn Nhất – Sài Gòn từ 1973-1975, tham gia Ban Liên hợp quân sự Trung ương 4 bên, có nhiệm vụ phối hợp hành động bảo đảm thi hành những điều khoản về quân sự của Hiệp định Paris…

So với Hiệp định Geneve năm 1954, Hiệp định Paris về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam là một bước tiến dài để đất nước hoàn toàn thống nhất. Do vậy, vấn đề bảo đảm thi hành Hiệp định đặt ra yêu cầu rất cao, nhằm giám sát quân Mỹ rút hết và đúng lịch trình cũng như việc trao trả nhân viên quân sự và dân sự giữa các bên liên quan.

Có một bài học cảnh giác mà Đại tá Vũ Nam Bình và những người làm công tác an ninh trong Trại Davis luôn ghi nhớ. Ông kể: Theo thỏa thuận giữa hai bên, 9h sáng 28-1-1973, phía Mỹ đưa trực thăng tới sân bay Thiện Ngôn (Bắc Tây Ninh, do ta kiểm soát) để đón Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do Trung tướng Trần Văn Trà làm trưởng đoàn vào Trại Davis.

Vốn là người thận trọng, đồng chí Trần Văn Trà gọi chúng tôi tới trao đổi: “Cần hết sức cảnh giác, đề phòng với những thủ đoạn của Mỹ - ngụy phá hoại việc thi hành Hiệp định, kể cả việc địch có thể tấn công vào các đoàn đại biểu ta”. Với vai trò Trưởng ban Bảo vệ an ninh, tôi đề xuất: “Để bảo đảm an toàn, đoàn ta chưa nên ra điểm hẹn. Đề nghị anh cho một tổ trinh sát đi tiền trạm”.

Đúng như nhận định của đồng chí Trần Văn Trà, tới giờ hẹn, xuất hiện hai chiếc máy bay lượn vòng rồi trút hàng loạt bom xuống điểm đón đoàn ta! Nhờ cảnh giác, phía ta không thiệt hại gì… Sau đó, phía ta đã kịch liệt lên án hành động này và địch buộc phải nhượng bộ, cam kết đảm bảo an toàn trong việc vận chuyển phái đoàn ta vào Trại Davis.

Sau khi hai phái đoàn ta vào Trại Davis, Ban bảo vệ an ninh tiến hành ngay các biện pháp bảo đảm an ninh và chính trị nội bộ, vốn đã được xây dựng chu đáo từ vài tháng trước khi Hiệp định Paris được kí kết. Phía ta thu được một số thiết bị điện tử địch cài trong các phòng họp, phòng làm việc, thậm chí cả phòng ngủ... Phái đoàn ta buộc phải xây dựng mới nhiều phòng làm việc bằng vật liệu sẵn có.

Qua công tác nắm tình hình, bộ phận an ninh nắm được địch có kế hoạch rất chi tiết nhằm theo dõi, kiểm soát hoạt động của đoàn ta. Song với bản lĩnh của từng thành viên trong phái đoàn ta và nghiệp vụ dày dạn của các cán bộ làm công tác an ninh, mọi âm mưu, thủ đoạn của địch đều gặp phải những “bức tường thép”. Địch thường nhắm đến các sĩ quan trẻ của ta để tác động, lôi kéo; vì chúng cho rằng họ còn ít kinh nghiệm và chưa được tôi luyện, thử thách nhiều qua chiến đấu.

Hôm ấy, nhân giờ giải lao của cuộc họp bàn về trao trả tù binh, viên thiếu tá Việt Nam Cộng hòa Đinh Công Chất (Tiểu ban trao trả) lại gần một thiếu úy trẻ của ta làm quen. Khi câu chuyện đã bớt khách khí, viên thiếu tá nheo mắt nửa đùa, nửa thật: “Sang với tụi này đi, sung sướng lắm; đủ cả các mùi, các vị...”. Đồng chí thiếu úy trẻ của ta quắc mắt lên, đốp trả: “Này, chiến tranh tâm lí kiểu gì đấy? Có mà vứt vào sọt rác thôi!”. Thiếu tá Chất tẽn tò chuồn thẳng.

Còn viên đại tá Việt Nam Cộng hòa Dương Đình Thụ thì hỏi với giọng điệu rất ngạo mạn và khiêu khích một đại úy của phái đoàn ta: “Này đại úy, cấp trưởng các tiểu ban bên tôi đều là đại tá, cấp trưởng các tiểu ban bên anh thì toàn Trung tá. Chênh lệch cấp hàm và trình độ như thế, tôi thấy khi ngồi họp rất bất tiện...”.

Đồng chí đại úy của ta dõng dạc đối lại: “Hiện giờ chỉ huy cấp sư đoàn của chúng tôi hầu hết là trung tá, thượng tá. Nhưng thưa ông đại tá, qua thực tế chiến trường, nhiều sư đoàn tinh nhuệ do những sĩ quan chỉ huy cấp tướng của các ông cầm quân, lại có sự giúp sức của cố vấn Mỹ, song đều bị chúng tôi đánh cho tơi tả”. Khẩu khí của một đại úy “Việt Cộng” khiến đại tá Dương Đình Thụ sa sầm mặt không nói được câu nào.

Đại tá Vũ Nam Bình (đứng thứ 3 từ trái sang) cùng các cán bộ bảo vệ an ninh tại Trại Davis - Tân Sơn Nhất - Sài Gòn (ảnh chụp năm 1973).
Đại tá Vũ Nam Bình (đứng thứ 3 từ trái sang) cùng các cán bộ bảo vệ an ninh tại Trại Davis - Tân Sơn Nhất - Sài Gòn (ảnh chụp năm 1973).

Trong số các nhân viên điện - nước của địch tại Trại Davis, có một sĩ quan công binh mang quân hàm thiếu tá, tên là Bùi Thiện Khiêm, chừng hơn 30 tuổi. Khiêm tỏ ra mẫn cán, nhiều lần kiểm tra hoạt động của hệ thống điện - nước và đến được những nơi “cần đến” trong Trại Davis. Nhưng có điều đáng nghi ngại, mỗi khi gặp ai trong phái đoàn ta, Khiêm nhìn người đó rất lâu...

Được báo cáo việc này, ông Vũ Nam Bình đã “ngẫu nhiên” gặp Khiêm, thì thấy đúng như thông tin được phản ánh. Anh em bảo vệ an ninh hội ý và thống nhất nhận định: Phải chăng, Khiêm có người quen trong phái đoàn của ta. Có thể lúc Khiêm còn nhỏ, cha hoặc anh trai của Khiêm đi tập kết, nay cũng có mặt trong phái đoàn...

Ông Bình chỉ đạo tập trung rà soát toàn bộ danh sách phái đoàn thì phát hiện một người có họ, tên đệm trùng với Khiêm; xét về tuổi tác thì có thể là anh trai của Khiêm. Người này tên Bùi Thiện Hùng, làm nhiệm vụ phiên dịch cho đoàn ta khi làm việc với đoàn Hungary và đoàn Ba Lan (trong Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát thi hành Hiệp định Paris).

Quả nhiên hôm ấy, sau một phiên họp, khi phái đoàn ta tiễn đoàn bạn ra về, thì bất ngờ Bùi Thiện Khiêm xuất hiện và – có lẽ vì quá xúc động, không thể kìm nén được – đã chạy ào về phía đoàn ta, ôm chầm lấy đồng chí Hùng rồi kêu lên: “Anh Hùng ơi, em là Khiêm đây!”. Hai anh em họ ôm chặt lấy nhau và trào nước mắt, khiến những người chứng kiến không khỏi bùi ngùi.

Đồng chí Hùng đã báo cáo đầy đủ về mối quan hệ với người em trai. Khi anh ra Bắc tập kết, Bùi Thiện Khiêm mới trên dưới 10 tuổi. Gần 20 đã năm qua, anh em họ mới gặp lại nhau trong một hoàn cảnh rất đặc biệt.

Khi được ông Bình báo cáo việc này, đồng chí Trần Văn Trà trầm ngâm giây lát và nhận định: “Việc này cũng bình thường thôi, đó là vì chiến tranh. Ta cứ cho anh em họ gặp nhau thêm; nhưng phải xin ý kiến cấp trên”. Sau khi nhận được sự đồng ý, ông Bình đã bố trí cho hai anh em họ Bùi gặp nhau. Trong cuộc gặp ấy, đồng chí Hùng đã dành cho đứa em ruột những tình cảm chân thành. Sau khi hỏi thăm sức khỏe cha mẹ và những người thân, anh nhắc nhở Khiêm, đại ý: Gia đình mình có truyền thống tốt, chưa làm gì hại đến Tổ quốc, bản thân em phải ghi nhớ và thực hiện điều đó... Cuối cùng, anh nhắc Khiêm phải làm tốt việc bảo đảm điện nước phục vụ phái đoàn.

Sau này, qua đánh giá tình hình thực tế, chúng ta quyết định không tiến hành các biện pháp nghiệp vụ để sử dụng Bùi Thiện Khiêm. Phần đồng chí Hùng, sau năm 1975 đã vào TP Hồ Chí Minh tiếp tục công tác và đoàn tụ với gia đình.

Trải qua 823 ngày đêm tại Trại Davis (từ 28-1-1973 đến 30-4-1975), phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên mặt trận ngoại giao quân sự, đấu tranh bảo đảm việc thi hành Hiệp định Paris về Việt Nam.

Vào lúc 9h30’ ngày 30-4-1975, ông Phạm Văn Lãi cùng một số thành viên Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Trại Davis đã cắm lá cờ của giải phóng lên đỉnh tháp nước của trại –  một trong những lá cờ chiến thắng đầu tiên tung bay trên thành phố mang tên Bác trong ngày lịch sử sang trang 30-4-1975.

Trần Duy Hiển

Các tin khác

Người dân Hà Tĩnh đồng thuận giao nộp hàng trăm khẩu súng

Người dân Hà Tĩnh đồng thuận giao nộp hàng trăm khẩu súng

Thông qua công tác tuyên truyền, vận động kết hợp tổ chức nhiều hình thức linh hoạt, sáng tạo, lực lượng Công an xã, phường tại Hà Tĩnh đã vận động người dân trên địa bàn giao nộp hàng trăm khẩu súng cùng nhiều công cụ hỗ trợ, vật liệu nổ các loại.

Một sinh kế, một cơ hội làm lại cuộc đời

Một sinh kế, một cơ hội làm lại cuộc đời

Sau cai nghiện, điều khó nhất với nhiều người không chỉ là tránh xa ma túy mà còn là bắt đầu lại cuộc sống. Từ rà soát, quản lý, giáo dục đến kết nối vay vốn, học nghề, tìm việc làm, Công an các đơn vị, địa phương ở Hải Phòng đang cùng chính quyền, ngân hàng và các đoàn thể tạo thêm những “điểm tựa” để người sau cai có thể tự đứng lên bằng chính sức lao động của mình.

45 ngày đêm quyết liệt làm sạch ma túy tại Đà Nẵng

45 ngày đêm quyết liệt làm sạch ma túy tại Đà Nẵng

Không để ma túy có khoảng trống len vào địa bàn, suốt 45 ngày đêm, Công an TP Đà Nẵng đồng loạt tổng rà soát từ khu dân cư, chung cư, nhà trọ, cơ sở lưu trú đến chợ đầu mối, bến xe và những địa bàn tiềm ẩn nguy cơ. Với phương châm “đi từng nhà, rà từng người”, mỗi cuộc kiểm tra không chỉ để phát hiện, xử lý mà còn mở ra những đầu mối truy xét, đấu tranh, làm sạch địa bàn. 45 ngày đêm khép lại, yêu cầu “làm sạch để giữ sạch” tiếp tục được đặt ra thường xuyên, hướng tới mục tiêu xây dựng TP Đà Nẵng không ma túy.

Điểm tựa của những đứa trẻ bị bỏ rơi

Điểm tựa của những đứa trẻ bị bỏ rơi

10 năm qua, những đứa trẻ đang được nuôi dưỡng tại Trung tâm Từ thiện xã hội chùa Hồi Long, xã Hoằng Thanh, tỉnh Thanh Hóa vẫn gọi sư cô Thích Đàm Ngoan là mẹ. Từ những đứa trẻ đỏ hỏn bị bỏ lại bên cổng chùa đến những em nhỏ lớn lên dưới mái nhà Hồi Long, sư cô đã dành phần lớn thời gian, công sức và tình yêu thương để các em có một tuổi thơ bình thường như bao đứa trẻ khác.

Tuyến đường giữa đại ngàn Trường Sơn đánh thức miền Tây Quảng Trị

Tuyến đường giữa đại ngàn Trường Sơn đánh thức miền Tây Quảng Trị

Hơn hai thập kỷ sau khi được mở tuyến, đường Hồ Chí Minh nhánh Tây từ Phong Nha đến Khe Sanh đã trở thành một trục giao thông quan trọng xuyên qua miền Tây Quảng Trị. Tuyến đường đi qua những vùng núi rừng hiểm trở, kết nối các bản làng với miền xuôi, tạo thuận lợi cho người dân đi lại, giao thương và từng bước thay đổi sinh kế.

Nẻo thiện tìm về

Nẻo thiện tìm về

Giúp đỡ người dân đi qua đường khi gặp mưa lũ, không nhận tiền “bồi dưỡng” của đối tượng khai thác gỗ trái phép, không quản thời gian, không nề hà công việc, có lệnh triệu tập là lên đường, đó là bản tính của Nguyễn Quốc Duy - Tổ trưởng Tổ an ninh trật tự (ANTT) thôn Mỹ Thạnh, xã Hàm Thạnh, tỉnh Lâm Đồng.

Ngăn chặn vấn nạn săn bắt chim di cư

Ngăn chặn vấn nạn săn bắt chim di cư

Để ngăn ngừa hành vi đặt bẫy, giăng lưới săn bắt động vật hoang dã (chim trời) mùa di cư, lực lượng Công an cơ sở ở các xã ven biển tỉnh Hà Tĩnh đã đồng loạt triển khai nhiều biện pháp thu gom, phá huỷ các bẫy chim trái phép đến bắt giữ, xử lý những trường hợp săn bắt, tiêu thụ động vật hoang dã trái phép.

Nuôi cá lòng hồ thuỷ điện, hướng sinh kế mới ở miền núi xứ Thanh

Nuôi cá lòng hồ thuỷ điện, hướng sinh kế mới ở miền núi xứ Thanh

Giữa mênh mông lòng hồ thủy điện Trung Sơn, những lồng cá nổi theo từng cụm đang mở ra một hướng sinh kế mới cho người dân vùng núi cao Thanh Hóa. Từ những hộ tiên phong ban đầu, đến nay nghề nuôi cá lồng ở Trung Sơn đã và đang ngày càng phát triển với gần 60 hộ dân tham gia, nhờ nuôi cá lồng (cá chép, cá lăng đen, cá rô phi…), nhiều gia đình có nguồn thu nhập ổn định…

Giữ hồn đại ngàn qua những thanh âm Bru-Vân Kiều

Giữ hồn đại ngàn qua những thanh âm Bru-Vân Kiều

Đối với đồng bào Bru-Vân Kiều, văn hóa không chỉ hiện hữu trong những lễ hội được tổ chức theo mùa, những bộ trang phục thổ cẩm rực rỡ hay âm thanh của cồng chiêng giữa đại ngàn. Văn hóa còn nằm trong từng làn điệu dân ca, tiếng sáo, tiếng đàn, trong cách làm một nhạc cụ và những nghi thức được người già truyền lại cho người trẻ. Đó là mạch nguồn âm thầm nuôi dưỡng bản sắc cộng đồng qua bao thế hệ.

Lời tuyên thệ ở Bentiu

Lời tuyên thệ ở Bentiu

Ngày 19/8, đúng dịp kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công, tại Bentiu, Nam Sudan, hai nữ quân nhân cùng công tác tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Dã chiến cấp 2 số 7 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tiếng máy thuyền giữa đại ngàn

Tiếng máy thuyền giữa đại ngàn

Ở Hôi Rấy và Nước Đắng, hai bản người Bru-Vân Kiều nằm sâu dọc sông Long Đại, xã miền núi Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị, tiếng máy thuyền vọng lại từ phía hạ nguồn đã trở thành âm thanh quen thuộc với bà con. Giữa nơi còn biệt lập với bên ngoài, âm thanh ấy báo hiệu một chuyến thuyền đang ngược dòng lên bản.

Dòng sông "vàng" và những phận đời lam lũ

Dòng sông "vàng" và những phận đời lam lũ

Mỗi mùa khô, khi dòng Đakrông (Quảng Trị) rút nước, những doi cát và bãi đá lộ ra cũng là lúc hàng chục người dân Pa Cô, Vân Kiều lặng lẽ mang theo chiếc mâm sắt xuống sông đào đãi vàng sa khoáng. Sau những hạt vàng nhỏ bé là cuộc mưu sinh đầy nhọc nhằn, những khoảng lòng sông bị đào xới và nỗi trăn trở về sinh kế của đồng bào vùng cao.

Kỳ cuối: Cạm bẫy “công nghệ hóa” ma túy và sự chuyển hóa nhận thức

Kỳ cuối: Cạm bẫy “công nghệ hóa” ma túy và sự chuyển hóa nhận thức

Ẩn mình dưới hình hài những thiết bị điện tử nhỏ gọn, thơm tho mùi kẹo ngọt hay trái cây nhiệt đới, pod chill chứa Etomidate đang có nguy cơ càn quét vào các không gian giải trí của giới trẻ. Từ chỗ chỉ thử “cho biết” theo lời rủ rê, nhiều thanh thiếu niên đã nhanh chóng trượt dài thành kẻ nghiện ngập, thậm chí trở thành mắt xích tiếp tay cho tội phạm ma túy.

Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Bài 2: Từ thuốc gây mê y khoa đến bẫy ma túy núp bóng pod chill

Cầm trên tay chiếc “pod chill” nhỏ gọn, tỏa ra mùi hương trái cây ngọt ngào, nhiều bạn trẻ hồn nhiên nghĩ rằng mình chỉ đang dùng một sản phẩm giải trí thời thượng. Nhưng đằng sau làn khói thơm ấy lại là Etomidate - một hoạt chất gây mê y học bị giới tội phạm “biến tướng” thành ma túy nguy hiểm. Đáng lo ngại hơn, hàng loạt lời quảng cáo dối trá “hút không lên test”, “que thử âm tính” đang khiến không ít người sập bẫy pháp lý và đối mặt với hiểm họa khôn lường về sức khỏe.

Mối tình của anh thương binh và một cô gái mồ côi

Mối tình của anh thương binh và một cô gái mồ côi

Câu chuyện cuộc đời và tình yêu của người thương binh nặng Nguyễn Văn Dũng (ngụ phường Phước Hội, tỉnh Lâm Đồng) với cô gái mồ côi vượt qua những năm tháng khó khăn đã trở thành một biểu tượng đẹp và nghị lực phi thường, như chuyện cổ tích về lòng nhân ái, đức hy sinh của những người phụ nữ với các thương, bệnh binh làm xúc động lòng người.

Thư gửi con của anh hùng Lê Thị Riêng

Thư gửi con của anh hùng Lê Thị Riêng

Những lá thư gói trọn tình yêu, nỗi nhớ và khát khao mong chờ ngày đoàn tụ gia đình, gặp lại con thơ và người chồng yêu thương của Anh hùng LLVTND Lê Thị Riêng vẫn được người con trai của bà lưu giữ, bảo quản trang trọng trong trái tim và ký ức…

Bài cuối: Tiếp nối lời hứa với những người nằm lại

Bài cuối: Tiếp nối lời hứa với những người nằm lại

Ở nhiều vùng quê của Quảng Trị, những người đến lấy mẫu sinh phẩm ADN cho thân nhân liệt sĩ không chỉ mang theo các thiết bị chuyên dụng, hồ sơ nghiệp vụ hay biểu mẫu thu nhận thông tin. Họ còn mang theo một lời hứa. Đó là sẽ cố gắng làm tất cả những gì có thể để thêm một người lính nữa được gọi đúng tên.

Bài 2: Từ di vật chiến tranh đến tên người lính

Bài 2: Từ di vật chiến tranh đến tên người lính

Tháng Bảy trên miền đất thiêng Quảng Trị, nhiều cuộc tìm kiếm vẫn đang tiếp diễn. Có gia đình vừa đón được người thân trở về nhờ giám định ADN. Có những người vẫn băng rừng lần theo từng dấu tích chiến trường. Và cũng có những cuộc tìm kiếm đã khép lại từ một di vật tưởng chừng vô tri nằm dưới lòng đất hơn nửa thế kỷ.