Trần Quang Quý và thông điệp hiếu nghĩa trong thơ

Viết về mẹ, thi đàn Việt Nam có đến cả muôn ngàn áng văn chương tuyệt tác ca tụng tình cảm thiêng liêng này. Nếu gõ cụm từ “Các bài thơ hay nhất về người mẹ”, chỉ trong 0,49 giây sẽ có 48 triệu kết quả.

Các nhà thơ, nhà văn trên thế giới đều viết về mẹ. Thi ca Việt Nam đã không ngớt lời ca ngợi tình cảm này bằng các mỹ từ như "lòng mẹ bao la như biển thái bình dạt dào, lòng mẹ bất tận như nước trong nguồn chảy ra…”. Thật ra, cho dù núi có cao, biển có rộng, sông có dài,… cũng không thể sánh ví với tình cảm cao cả và thiêng liêng của người mẹ đối với con.

Như một nguồn mạch dạt dào, bất tận; như một dòng chảy mạnh mẽ không ngừng, hình ảnh người mẹ Việt Nam đã đi vào văn học một cách hết sức tự nhiên và cứ thế xuất hiện xuyên suốt trên hầu khắp các tác phẩm mọi thế hệ, từ xưa tới nay.

Quê hương mỗi người chỉ một/ như là chỉ một mẹ thôi” (Đỗ Trung Quân). Chỉ một mẹ thôi mà biết bao ơn nghĩa sâu nặng. Nếu thiếu vắng tình yêu của mẹ thì cuộc sống của chúng ta sẽ bất hạnh và đau khổ biết chừng nào. Mẹ không chỉ là người “mang nặng đẻ đau”, ấp ủ ta trong bào thai chín tháng mười ngày mà còn là người nuôi dưỡng, chở che ta trong suốt hành trình dài của cuộc đời: “Con dù lớn vẫn là con của mẹ/ Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con” (Chế Lan Viên).

Nhà thơ Trần Quang Quý (phải) tặng tác giả bài báo hai tập thơ mới.
Nhà thơ Trần Quang Quý (phải) tặng tác giả bài báo hai tập thơ mới.

Tôi từng đọc rất nhiều thơ viết về mẹ của các nhà thơ nói chung và các nhà thơ là bạn bè như nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Quang Thiều, Trần Chấn Uy, Nguyễn Ngọc Hạnh, Trần Quang Đạo, Nguyễn Phúc Lộc Thành... Trong số đó, nhà thơ Trần Quang Quý viết về mẹ khá nhiều. Trong “Thơ Trần Quang Quý”, NXB Hội Nhà văn, 2015 có: “Xin mẹ một lần trước lúc con đi”, “Mùa xuân nơi mẹ”...

...

Mẹ ơi, sáng mai con đi
Mẹ đã cho con bao nhiêu điều để con làm con trai của mẹ
Hạt lúa chín trước thì bắp ngô vàng trước tháng
Cả cuộc đời bước vội để cho con

(Xin mẹ một lần trước lúc con đi)

Bài thơ này Trần Quang Quý viết vào mùa xuân năm 1984, nhắc nhớ ngày anh nhập ngũ “mười bảy tuổi bắt đầu là lính”.

Tình mẹ, thứ tình cảm chở che, cưu mang, bao dung, độ lượng,…; bản năng người mẹ luôn hy sinh, cam chịu trong mọi hoàn cảnh vì con. Đây chính là thứ tình cảm ngọt ngào thiêng liêng, làm nảy sinh nên mọi tình cảm ở đời như: tình yêu quê hương, tình yêu đất nước, tình yêu đồng bào, tình yêu con người… Nếu thiếu vắng thứ tình cảm này, cũng đồng nghĩa với sự vắng mặt của mọi thứ tình cảm gốc rễ nhất, cội nguồn nhất. Yêu Tổ quốc trước hết cũng nhờ yêu mẹ; yêu Tổ quốc người mẹ mới dâng hiến những đứa con của mình ra trận để chiến đấu vì sự sống còn của Tổ quốc.

Cuộc sống không chỉ mỗi con người mà bất cứ quốc gia nào cũng mong muốn hòa bình, nhưng đâu có được dễ dàng như thế? “Nơi mặt trận lẽ ra ta không chọn/ Nhưng mặt đất còn có người ngã xuống/ Và con là con trai mẹ sinh ra”. Không chỉ con trai, mà vì yêu hòa bình, những người con gái Việt Nam cũng đã chiến đấu vì tình yêu ấy.  “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” (tục ngữ Việt Nam). Nhà thơ xin mẹ điều gì?

...

Cho con lòng dũng cảm
Để đời con không chịu cúi bao giờ
Chỉ xin một lần trước lúc ra đi
Mẹ hãy truyền cho con bằng tất cả trái tim nhân từ của mẹ
Người lính có ngọn lửa trái tim của mẹ
Con tin mặt đất này rồi sẽ bình yên
Mặt đất này rồi sẽ bình yên.

Cũng năm 1984, áp Tết, Trần Quang Quý có bài thơ “Mùa xuân nơi mẹ”. Nhớ mẹ nhưng Tết không về được cùng bà, vì nhiều nhẽ. Quê hương và hình ảnh người mẹ xâm chiếm hồn anh: “Tóc mẹ trắng như mây trắng hết tuổi mình/ Những sợi trắng đến tận cùng mưa nắng/ Cây gậy dắt lối đi chầm chậm/ Mẹ tựa vào mỏng mảnh thời gian”; “Biết giờ này mẹ phấp phỏng vào ra/ Người hàng xóm mùa xuân tíu tít/ Mắt mẹ sáng vẫn để phần sáng nhất/ Dẫu nhỏ nhoi sáng trước hiên nhà”.

Lòng mẹ, hai tiếng hết sức ngọt ngào, thân thương và thiêng liêng làm sao! Tình cảm này không phải là thứ tình cảm ngẫu nhiên, so đo và tính toán như các thứ tình cảm mà thế nhân thường ví von “có qua có lại mới toại lòng nhau” … Tình mẫu tử được gắn kết bằng sợi dây huyết thống, sự sống của con gắn liền với sự sống của mẹ; tình cảm ấy mang đầy chất liệu yêu thương ngọt ngào, chan chứa vô bờ, chỉ ban phát mà không mong cầu đáp trả. Con nhớ mẹ, yêu thương mẹ và mẹ nhớ con, yêu thương con là quy luật tất yếu của tình mẫu tử.

Trong “Nguồn”, NXB Hội Nhà văn, 2019, Trần Quang Quý có bài “Đưa mẹ về Tiên cõi”. Tình mẫu tử thiêng liêng như vậy, nên mất mẹ, những đứa con luôn trống vắng, tựa như mất cả bầu trời. Ngoài nỗi đau chuếnh choáng vì mất mẹ, những đứa con bao giờ cũng cảm thấy có lỗi vì chưa được báo đáp hoặc báo đáp chưa trọn vẹn công lao mang nặng đẻ đau, sinh thành dưỡng dục của người mẹ. Đức Phật từng dạy: “Công ơn Cha Mẹ sâu dày vô tận. Dù vai phải cõng Cha, vai trái cõng Mẹ mà đi hàng trăm nghìn kiếp, người con vẫn không thể nào đền đáp nổi công ơn ấy”. Trong bài thơ này, nỗi đau xé ruột của nhà thơ hiện lên trên từng ký tự:

Trống đã điểm rồi
điểm gió sương cánh đồng héo bấc
những hạt gạo cõng nhau trên hạt rơm gầy về tiễn mẹ
chúng con thắt nỗi đau bái biệt
thắt hoàng hôn khép lại phía xa đồi.

Bài này Trần Quang Quý viết trong ngày “Tam nhật” người mẹ quá cố. Đọc bài thơ, dễ nhận ra cảm xúc của anh trước khi làm lễ di quan đưa tiễn mẹ về trời. Chưa di quan, mẹ còn trước mặt, khi “trống đã điểm rồi”, khi đã “đào sâu chôn chặt” thì mẹ con âm dương cách biệt mãi mãi. Nngày mẹ Trần Quang Quý mất, tôi và bạn bè có về Hạ Bì thắp hương tiễn biệt bà. Nhà thơ Trần Quang Quý lặng đi, nỗi đau se sắt. Nhìn đâu anh cũng thấy bóng mẹ:

Bình vôi trầu của mẹ hóa mây trắng vắt ngang sông Đà
quấn khăn tang non Tản
để mỗi lần nhìn lên chúng con thấy cao xanh có mẹ
sông cũng nằm lép sóng
cánh cò về nghiêng biệt lời ru

Ngoài những bài thơ có tên tác phẩm về mẹ, trong rất nhiều bài thơ khác về quê, làng... của Trần Quang Quý đều có hình bóng về mẹ. Bóng mẹ trong bóng làng, hai hình bóng lồng nhau đã không còn tách biệt nổi. Trong tập thơ mới nhất “Chảy trên dòng thời gian”, NXB Hội Nhà văn, 2020, độc giả dễ gặp nhận định này. Trong bài “Khai sông”, nhà thơ Trần Quang Quý viết:

...

Ta rót cả dòng sông làm mực
rót mùa xuân phồn thực những bến bờ
Mẹ ta 90
cạn mình dòng ấm
90 mùa xuân mẹ vắt máu sang ta nuôi một chữ NHÂN

Ngày mười tám, đôi mươi mới vào lính, Trần Quang Quý đã thầm cảm ơn mẹ “Mẹ đã cho con bao điều để con trở thành người lớn” (Xin mẹ một lần trước lúc con đi); thì khi đã hoa niên, anh cảm ơn mẹ “vắt máu sang ta nuôi một chữ Nhân”. Chữ “Nhân” được nuôi dưỡng suốt cuộc đời nhờ nếp nhà, nhờ tấm lòng thơm thảo, phúc hậu của người mẹ. “Phúc đức tại mẫu” (thành ngữ).

Câu “Phúc đức tại mẫu” thật giản dị mà cũng không kém phần sâu sắc. Không phải vì các tác giả dân gian trân trọng, tôn sùng người phụ nữ nên nói vậy mặc dù tôn trọng phụ nữ là một điều vô cùng quý báu trong văn hóa Việt Nam. Trong tiểu thuyết “Mẫu thượng ngàn”, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã chọn đạo Mẫu làm tư tưởng ngầm xuyên suốt tác phẩm. Đạo Mẫu, theo Nguyễn Xuân Khánh, là đạo nguyên thủy của người Việt Nam: thờ mẫu, thờ mẹ núi, mẹ sông, mẹ đất, thờ Man nương… Trần Quang Quý có quyền tự hào về mẹ.

Vì thế, rất dễ hiểu ngày giỗ đầu của người mẹ, theo tâm linh là ngày thiêng, với Trần Quang Quý, có lẽ anh chưa tin được mẹ mình đã mất, dẫu xa cách mẹ đã đến 365 ngày.

...

Mẹ ơi
tháng ba con về hoa xoan đầy ngõ
nắng nhớ ai ngẩn mặt thiên hà
dằng dặc bước chân qua bậc thềm thế hệ
dằng dặc sông người trôi qua nhân gian

Đã một năm cau không người hái
Bình vôi một mình đựng bạc gió sương
Bình vôi trắng từng nuôi môi trầu đỏ.

(Tháng ba đầu mẹ xa).

Cảm ơn nhà thơ Trần Quang Quý, với những bài thơ về mẹ, đa dạng các lát cắt tình cảm mẹ con, không chỉ viết cho riêng anh mà nói hộ bao người, làm xúc động bao người. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam kiêm Giám đốc NXB Hội Nhà văn, người có nhiều tác phẩm viết về mẹ, từng chia sẻ: “Trong một lần giao lưu với sinh viên, họ có hỏi tôi bí quyết lớn nhất để có được hạnh phúc là gì? Tôi nói với họ rằng: Được ở bên cha mẹ càng nhiều càng tốt. Đó là một trong những yếu tố quan trọng nhất làm nên hạnh phúc”.

Chính vì thế, thơ về mẹ của Trần Quang Quý mang đến thông điệp cái đẹp về nghĩa hiếu, giá trị cốt lõi của “đạo hiếu”. Đừng để nhận ra yêu thương khi quá muộn.

Tháng 6/2020

Ngô Đức Hành

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).