Trần Quang Quý - Đi tìm hồn chữ

Nói đến phong cách thơ trước hết phải nói đến giọng điệu. Vì có một giọng điệu riêng nên trong thế hệ các nhà thơ trưởng thành sau năm 1975, Trần Quang Quý nổi lên như một gương mặt ấn tượng của thi đàn Việt Nam. Dấn thân và trải nghiệm là đặc điểm bao trùm toàn bộ quá trình sáng tác của ông. Thơ ông gân guốc và gai góc nhưng là gai góc của hoa hồng. Ông đi tìm hồn chữ chứ nhất quyết không siêu hình trong bóng chữ. 

Là người cùng ở một vùng quê nghèo khó trên mảnh đất cội nguồn dân tộc, đất Tổ Hùng Vương nên tôi biết khá rõ về ông và thơ ông ngay từ khi mới xuất hiện. Ngày đó, tôi đang là sinh viên khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, mỗi lần về Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh, nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh sau những cuộc "trà dư tửu hậu" bao giờ cũng không quên nhắc tôi nên đọc Trần Quang Quý.

Ông bảo, đây sẽ là một cây bút ấn tượng của thi đàn Việt Nam. Sau cuộc thi thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Trần Quang Quý đoạt giải Nhì với bài thơ "Nhạc ngựa Lào Cai", tôi mới gặp ông lần đầu tại Hà Nội. Và trong Hội thơ Thanh Xuân ngày đó, ngồi đâu tôi cũng nghe được những lời khen, ám ảnh từ câu thơ "Lào Cai không ngã ngựa một lần" của ông.

Cùng hành trình với ông suốt mấy chục năm qua, tôi biết, từ trong sâu thẳm của những nỗi niềm, ông luôn giữ được cái nhìn trong trẻo và xuyên thấu. Ông nhanh chóng hòa nhập với dòng chảy của thơ Việt cuối những năm "bao cấp".

Nhưng khác với nhiều cây bút cùng thời, ông không chịu làm "cái đuôi" của thơ chống Mỹ. Ông kết bạn với những: Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Lương Ngọc, Trần Quang Đạo…Ông lặng lẽ như người nông dân cày cấy gieo gặt trên "thửa ruộng" của mình, trên cánh đồng của mình và ông đã có được những mùa bội thu trên-cánh-đồng-chữ nghĩa.

Nhà thơ Trần Quang Quý.
Nhà thơ Trần Quang Quý.

Sau những giải thưởng đầu đời, ông đã nhanh chóng khẳng định mình trên thi đàn bằng những giải thưởng uy tín của Hội Nhà văn. Từ bài thơ mới xuất hiện đến bài thơ mới nhất mà tôi đọc được, vẫn là một Trần Quang Quý riết róng với đổi mới, can dự, vẫn nguyên một giọng điệu nhiều thổ ngữ, một phong cách thơ hiện đại mà thuần Việt. Xin bắt đầu từ "Viết tặng em trong ngôi nhà chật", tập thơ đầu tay của ông.

Tôi thích tập thơ này bởi những rung cảm còn rất trong trẻo và đằm thắm. Chưa có nhiều câu chữ cách tân, rích rắc trong cách viết, lối nghĩ nhưng "Viết tặng em trong ngôi nhà chật" lại mở ra nhiều biên độ. "Chất quê" trong tập thơ này đã làm ngơ ngác không ít cây bút có tư duy theo kiểu "thị thành".

Không cao đạo, làm duyên, đi tìm cái ngoài mình mà đào sâu vào tâm thức, những rung động đầu đời đã cho Trần Quang Quý những câu thơ như khắc, như chạm vào lòng người, đậm đặc hồn cốt xứ sở, đầy hoài niệm tiếc nuối và mặc cảm, vô thức nhưng lại đầy ý thức về sự cần phải bảo vệ văn hóa cội nguồn đang bị giải thiêng.

Từ "Viết tặng em trong ngôi nhà chật" đến "Mắt thẳm", ông có cả khoảng thời gian trên dưới 3 năm để lắng lọc và thanh lọc. Chọn lựa cho mình một hướng đi là khó nhất trong mỗi đời cầm bút. Nếu lạc hướng sẽ lạc đường. Rất may, Trần Quang Quý đã xác lập được cho thơ ông một căn cước văn hóa cội nguồn, day dứt và ám ảnh. Xa xót và đồng cảm với những thân phận chốn làng quê ao tù nước đọng, ông đã cất lên được tiếng lòng của người quê, nói được cái cần nói của những vô danh, những cơ cực cay đắng.

Nhưng đến tập thơ thứ 3, tập "Giấc mơ hình chiếc thớt", lại là một Trần Quang Quý khác. Trong giấc mơ chứa nhiều ám ảnh về thân phận bị dồn đuổi, biểu tượng rõ nhất là con cá nằm trên thớt. "Gợi" nhưng dễ ám vào đời. Đã có lần tôi bảo với Trần Quang Quý như thế. Nhưng thơ là thơ.

Trong cuộc dịch chuyển này, ông đã mượn đến giấc mơ để bày tỏ tâm trạng mình, tâm trạng thời cuộc. Ngôn ngữ thơ bỗng trở nên sắc lạnh, thi tứ và thi ảnh cũng khác trước. Biểu tượng của giấc mơ hình chiếc thớt khiến chúng ta càng day dứt hơn về sự yếm thế, về sự lạc đường, về những cái chết, những nỗi đời ô trọc và sự băng hoại của đạo đức, lối sống.

Trần Quang Quý đã làm mới lại ngôn ngữ với thủ pháp chồng mờ của điện ảnh. Ông như con cá đã ra giữa đại dương, muốn quay lại khúc sông quê, không phải là chuyện dễ. Hơn nữa, lại đã bị lưới bủa, nên "Giấc mơ hình chiếc thớt" là một ám ảnh tâm trạng của những thân phận liên tục bị vây bủa, liên tục phải chạy trốn trong hoảng loạn. Có gì đó hơi "rợn". Bởi sự sắc lạnh của ngôn từ chăng? Hay sự thật của chợ đời là vậy.

Thơ không làm nhiệm vụ giải thích. Cũng không phải là người thư ký sao y bản chính. Những gì chúng ta cảm nhận được ở tập thơ thứ 3, tập "Siêu thị mặt" vẫn như các tập thơ trước nhưng đã có thêm nhiều cái mới của phép ẩn dụ: "Tự tay mình từng đã vốc lên/ Một gương mặt từ trong chậu rửa". Ý thức này càng rõ hơn khi Trần Quang Quý viết "Tất cả đã nhào tôi giữa dòng chảy tha nhân/ Tôi trồi lên hay chìm xuống mặt mình/ Tôi nhân nghĩa hay tôi hiểm ác/ Tôi đo bằng cách ném mặt mình vào siêu thị mặt / Hy vọng mỗi ngày giá nhân nghĩa nhích lên".

Kiểu nói này cũng ít gặp ở những cây bút cùng thế hệ: "Tôi gọi mặt về sau những cuộc đi sông gió trăng đồng cỏ…/ Sau cả những lơ ngơ mặt khắc /Mặt ơi/ Mặt ơi/ Tiếng người chợt thức/ Biết mặt mình không mặt hình nhân".

Có thể cuộc đời nhiều va đập đã khiến Trần Quang Quý bản lĩnh hơn, quyết liệt hơn trong cả thơ và đường đời. Nhưng trên hết và xuyên suốt quá trình cầm bút vẫn là một Trần Quang Quý của những nỗi niềm tâm trạng nhiều trắc ẩn, đau buồn đến phẫn nộ. Chính vì thế mà ông luôn khát tình người. "Rỗng" và "Khát" trong phạm trù triết luận duy lý dày đặc trong thơ Trần Quang Quý. Ông thường hay dùng những câu thơ vắt dòng, dài ngắn khác nhau trong trường liên tưởng bắc cầu.

Bìa tập thơ “nam kau” tác giả Trần Quang Quý.
Bìa tập thơ “nam kau” tác giả Trần Quang Quý.

Suốt mấy chục năm nay, Trần Quang Quý vẫn một giọng đầm đìa hồn quê. Cái đói nghèo rỗng ruột làng quê cứ giày vò, ám ảnh, bám riết lấy ông. Càng xa quê ông càng dành tình cảm cho quê hương nhiều hơn, sâu nặng hơn. Những ngày bươn chải mưu sinh nơi phố phường, gặp gỡ bao mặt người sáng tối, thật có, giả có, cho ông thêm trải nghiệm, chiêm nghiệm về lẽ đời, tình đời. Và ông sợ những thói đời giả dối, những lừa bịp, những bon chen, những chụp giật.

Kịp nhận ra và trấn tĩnh trở lại, ông đã "lột" từng cái mặt nạ, chỉ cho chúng ta biết: "Tôi gặp đó đây nhan nhản vô cảm/ Có khuôn mặt một đời biểu diễn/ Có khuôn mặt đau nỗi đau không mặt / Bóng thời gian làm xiếc phận người"; "Cuộc sống của tôi là sống giữa tầng tầng thế giới  mặt / Cuộc bắn phá của mắt / Cuộc cứu vớt của nụ cười / Hay trò chơi giấu mặt…"; "Những gì mềm mại thôi nhường lưỡi/ Cả nụ hôn răng cũng nhìn mình/ Đến một ngày, những chiếc răng rủ nhau về cõi im/ Lưỡi vẫn véo von trong vòm miệng/ Nghe hẫng một nỗi buồn rỗng rơi/ Từ thẳm sâu, thảng thốt cổ nhân/ Lưỡi còn vì lưỡi mềm/ Răng rụng vì răng cứng".

Trong bờ khác của tư duy, ông đã cảnh báo cho cả thế hệ: "Trái tim đa mang những số phận ngoại mình/ Những số phận quẫy đạp lổn nhổn hiện thực/ Thương những cặp môi/ Rã mép bên đường/ Xác ngụy biện bạc mồ giấy trắng". Có người bảo thơ Trần Quang Quý nghiêng mạnh về phía buồn đau nhưng tôi thì lại cho rằng, thơ ông là thơ của một con chim sơn ca bị nhốt trong lồng nhưng không mất giọng.

Cũng như nhiều tên tuổi khác cùng thế hệ, Trần Quang Quý đã xác lập được căn cước cho thơ mình, trở thành một trong những gương mặt ấn tượng của thế hệ các nhà văn trưởng thành sau năm 1975. Mới đây nhất, những ngày cuối năm Bính Thân 2016 này, nhà thơ Trần Quang Quý đã cho ra mắt tập thơ "nam kau" phá cách, hiện đại với thể thơ tự do mỗi bài chỉ vỏn vẹn 5 câu kiệm lời, súc tích, chuyển tải nhiều ẩn nghĩa. Với 100 bài thơ 5 câu như thế trong tập thơ "nam kau", một lần nữa, Trần Quang Quý lại mang đến cho độc giả những ngạc nhiên, xen lẫn khâm phục về sự sáng tạo không ngừng nghỉ ...

Bước yêu

Đã từng đi nát con đường
gỗ hương long mộng chân giường đứng ngây

Đã từng hẹn tuột vỏ cây
gió ghen vần vũ đám mây tụt quần

Đã yêu yêu cạn mùa xuân...
(Rút trong tập thơ “nam kau”)
Nhà thơ Trần Quang Quý.

Nguyễn Hưng Hải

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).