Trái tim người mang nhịp đập khơi xa

Sau mỗi chuyến đi đầy hứng khởi đến nhiều vùng đất, Lữ Mai trở về Hà Nội với tâm trạng “nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương”. Những câu chuyện ăm ắp tình đất, tình người nơi ấy luôn được chị thể hiện đầy sinh động và thấm thía qua ngòi bút với một số thể loại như thơ, truyện ngắn, tản văn, bút ký, ghi chép…

Những cảm xúc đã lắng đọng hay vẫn còn tươi ròng mới lạ lại bùng lên qua mỗi câu thơ áng văn. Phải kể đến chuyến chị đi Trường Sa năm 2019. Chuyến đi dài ngày lênh đênh trên biển ấy đã khiến cho một Lữ Mai mộng mơ, đằm thắm và quyết liệt mà tôi vốn biết càng trở nên dày dặn và nội lực hơn.

Tác phẩm mới của nhà thơ Lữ Mai.
Tác phẩm mới của nhà thơ Lữ Mai.

Mang trong lòng những suy tư lớn về biển cả, Lữ Mai đến với Trường Sa đâu chỉ trong tâm thế của một người viết. Chị mang trong mình khao khát chạm đến thẳm sâu của đại dương, để biết dưới sóng bạc nước xanh kia cất giấu điều gì, “tưởng tượng biển khơi nối bầu trời/ nằm trọn giữa lòng tay nhiệt đới, để hiểu trăng sáng quá cá bơi về cõi khác”, để nhận ra “chẳng cát nào nằm thở mãi đáy sâu”.

Trường ca “Ngang qua bình minh” được chị khởi viết trong nguồn cảm hứng bất tận và sâu xa ấy. Điều ấn tượng là, đây là lần đầu tiên Lữ Mai viết trường ca nhưng chị đã khẳng định mình ở một địa hạt mới cũng như cho thấy sự chuyên nghiệp của một người cầm bút khi dám dấn thân, dám thể nghiệm. 

Với mọi người viết, thể loại luôn như một rào cản, có người được chọn ở thể loại này, có người chỉ được chọn ở thể loại kia. Với một Lữ Mai đầy nội lực và quyết liệt, dường như chị không đợi được chọn, mà chị chính là người chọn thể loại cho mình khi cảm thấy cảm xúc, suy tư của mình phù hợp với chiều kích của thể loại đó.

Sinh năm 1988 tại Thanh Hóa, Lữ Mai tốt nghiệp Khóa 10, Khoa Viết văn - Báo chí, Đại học Văn hóa Hà Nội (tiền thân là Trường Viết văn Nguyễn Du). Hiện chị công tác tại Ban Văn hóa - Văn nghệ, Báo Nhân dân. Chị là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam.

Nhìn lại chặng đường sáng tác, có thể nhận thấy Lữ Mai dường như chưa bao giờ ngưng nghỉ, những cuốn sách ra đời như một sự không thể khác sau mỗi hành trình lao tác, chiêm nghiệm. 

Chị đã xuất bản: “Giấc” (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2010), “Hà Nội không vội được đâu” (Văn xuôi, NXB Văn học, 2014, tái bản 2019), “Mở mắt rồi mơ” (Tập thơ NXB Hội Nhà văn, 2015), “Thời cách ngắn trống rỗng” (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2019), “Linh hồ” (Tập truyện ngắn, NXB Văn học, 2019), “Nơi đầu sóng” (Tản văn, NXB Văn học, 2019), “Mắt trùng khơi” (Tản văn, NXB Văn học, 2019), “Ngang qua bình minh” (Trường ca, NXB Văn học, 2020). 

Có thể thấy, quãng 2019-2020 là quãng chị ra sách nhiều và liên tục nhất, đó cũng chính là thời gian chị trở về từ Trường Sa, sự viết nhiều ấy như sự khẳng định nguồn cảm hứng lớn lao mà chị có được. Và ngay sau khi tác phẩm ra đời là những giải thưởng. 

Trường ca “Ngang qua bình minh” đã đoạt Giải Ba Giải thưởng Văn học đề tài Biên giới, hải đảo, giai đoạn 1975 đến nay của Hội Nhà văn Việt Nam. Tập tản văn “Nơi đầu sóng” đoạt Giải B Giải thưởng Văn học Nghệ thuật, Báo chí giai đoạn 2016 - 2020 của Bộ Tư lệnh Hải quân.

Tích cổ Điêu Lương chép rằng, mọi người đàn ông đồng rừng, trưởng thành ắt thuộc về biển cả”. Câu thơ ấy của chị khiến tôi trộm liên tưởng, Lữ Mai sinh ra và lớn lên ở vùng đồng rừng Thanh Hoá, và rồi đến một ngày chín muồi với những trang viết về khơi xa. “Ngang qua bình minh” là giấc mơ, là hiện thực của những chàng trai thuộc nhiều thế hệ từ phía đồng rừng đi về biển cả. Hình ảnh này gợi nhiều liên tưởng sâu xa. Trong tâm thức của người Việt, ai cũng nhớ về nguồn cội qua truyền thuyết mẹ Âu Cơ lên rừng, cha Lạc Long Quân xuống biển. Tôi đọc Lữ Mai và thấy thức dậy trong mình cảm thức về sự nối tiếp và xuyên suốt sau những đau thương và bi tráng.

Điêu Lương, cái tên làng thân thuộc mà cũng gợi những xa xôi, nơi khởi đầu cho sự tưởng tượng, nơi bắt đầu cho những nguồn cơn: “đất Điêu Lương xưa giờ vẫn vậy/ người đi người tiễn mịt mùng/ chỉ nước mắt/ nước mắt chẳng quên rơi/ dẫu lần nào cũng một lần khóc mới”. Những câu thơ cho ta hình dung về những chia ly bất tận. 

Trên dải đất Việt Nam, suốt mấy nghìn năm qua, có nơi nào là không như thế. Điêu Lương như một cái cớ để nhà thơ khởi lên những thăm thẳm trong lòng. Những tên đất tên làng dẫu nghìn xưa hay hôm nay như đang hiện về, như đang thức dậy… Lữ Mai đã bắt đầu trường ca dài hơi theo cách đầy gợi mở với ăm ắp những ảnh hình, ăm ắp những câu chuyện gắn bó và quen thuộc với rất nhiều tuổi thơ. 

Sức mạnh của chị nằm ở ngôn ngữ giàu sự liên tưởng: “tôi lớn giữa đồi hoang/ xóm núi buồn hơn cổ tích/ sớm tối nhập nhoè linh tính chim muông/ măng đắng đội những tầng nghĩa đất”. Nhưng đó chưa phải là tất cả những gì chị làm để cuốn người đọc vào câu chuyện của mình. Bởi bên cạnh sự mê dụ của chữ, thế mạnh của chị lâu nay, thì tôi cũng bị thuyết phục bởi những câu thơ tưởng như đơn giản mà chứa đựng câu chuyện lớn của mọi thời đại: “tôi hỏi cha/ chinh chiến là gì/ là kẻ ở người đi/ có đoàn tụ cũng mấy thì dang dở”.

Nhà thơ Lữ Mai.
Nhà thơ Lữ Mai.

Trong “Ngang qua bình minh”, chúng ta sẽ thấy điệp trùng những câu chuyện của người lính biển, đan xen quyện hoà hay riêng lẻ. Thú vị hơn, đó không chỉ là câu chuyện của những người đang sống mà còn có rất nhiều câu chuyện của những người lính đã hi sinh, họ vẫn hiện diện trên sóng nước Tổ quốc với những suy tư tâm sự đời thường và cả thiêng liêng: “chung một ấm trà mà cách biệt mấy mươi năm/ chúng ta đã nằm lại nơi này/ mãi tuổi đôi mươi/ mãi chung nhịp đập/ mỗi người còn trồng tỉa giấc mơ riêng”. 

Sự khác biệt mà Lữ Mai đã làm được để bước ra khỏi cái bóng của thể loại trường ca chính là cách chị xây dựng tuyến nhân vật cho trường ca của mình. Những người lính, người hi sinh trước, người hi sinh sau, và người đang sống, tiếng nói của họ cất lên, song hành, đồng điệu, cho dẫu mỗi người mang một câu chuyện riêng, một giấc mơ riêng nhưng họ đều đến đây vì lý tưởng, lý tưởng ấy bắt nguồn từ trong tiềm thức. 

Tiếng nói ấy làm đầy lên những trang trường ca mê dụ, kiêu hùng và bi tráng của một nữ thi sĩ: “còn bao nhiêu đảo nổi đảo chìm/ bao giấc tỉnh mê/ kể suốt nghìn năm vẫn lẻ/ khoảnh khắc này biển của ta đẹp thế/ luồng sáng uy nghi trên muôn cánh bồ đề”.

Lữ Mai không chỉ đem đến một quan điểm, một cách nhìn khác về trường ca, hay nói cách khác, chị đã vượt qua được những thách thức và sự gò bó của thể loại. Và cũng trong cách thế đầy bứt phá của riêng mình, chị đã đem đến/thay đổi những quan niệm: “bi tráng nhiều khi không cứ gì đổ máu/ giây phút so kè giữa muôn nỗi lặng thinh/ bóng đen tàu lạ kề bên mình lừng lững/ đêm đến rực lên chớp lửa thiên thời”. 

Đó là tầm nhìn của một thế hệ mới, họ bi tráng ngay trong tâm thế của chính mình. Đó là tâm thế của những con người bám sâu vào nguồn cội để ngẩng cao đầu hướng tới tương lai: “mặc máu chảy chỉ cần ta còn thở/ sẽ trổ giấc mơ lên thân sóng gầm gào”. Những con sóng bạc như vẽ lên giấc mơ của người lính biển. Những câu thơ mang đầy thi ảnh của Lữ Mai đã góp phần làm mềm hơn và sâu thêm cho đề tài vốn được xem quá khó để làm mới này.

Thực vậy, trong trường ca này, Lữ Mai đã dành cho biển nhiều hình ảnh được tạo tác nên từ tận cùng cảm xúc và sáng tạo. Nhờ vậy, chúng ta gặp ở đây những câu thơ có thể nói là góp phần làm đầy lên tài nguyên của tưởng tượng, của hình dung khi ta nghĩ về biển: mỗi loài hoa nơi đầu sóng tàn đi/ là nghi lễ không hề bi luỵ; ai đã gặp những bàn tay trắng mọc lên từ lòng biển/ trắng như khi ta hướng lên trời tuyên thệ/ trắng như ngày bão bùng bám chặt sợi dây/ trắng như ngày hẹn hò em mường tượng. Tôi nghĩ, sự đóng góp này là sự đáng kể đến mà một nhà thơ trẻ như Lữ Mai đã làm được.

Trong “Ngang qua bình minh”, Lữ Mai cũng không hề có ý kể một câu chuyện có đề tài lớn lao để thu hút số đông. Chị đang viết những điều làm lay thức thẳm sâu của mỗi người. Đề tài lớn lao dễ làm ta hoặc bị choáng ngợp, hoặc bị chìm lấp. Lữ Mai đã neo vào chính cảm xúc và tưởng tượng của mình để bước đi một cách đầy lôi cuốn và chắc chắn. Chị đã nói một tiếng nói riêng và kể một câu chuyện khác để không bị lẫn bị ẩn đi trong rất nhiều tiếng nói, rất nhiều câu chuyện có chung một chủ đề mà chúng ta gặp hôm nay.

Lửa bùng lên sẽ mặc nhiên tro tàn/ phía sau tro tàn vẫn tình yêu thuần khiết/ vẫn đoàn người hành quân từ miền khác/ không về quê mình mà tới biển mênh mông. Trong trái tim mỗi chúng ta luôn có một phần dành cho biển, cho dẫu có những người chưa từng đặt chân tới biển. “Ngang qua bình minh” như là sự thấu suốt sâu xa ấy.

Nguyễn Thị Kim Nhung

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).