Đọc “Yêu như là tình cuối”, tập thơ của Phạm Thị Phương Thảo, NXB Hội Nhà văn, 2017

Trái tim cất lời da diết

Khi đọc “Yêu như là tình cuối” (tập thơ tình song ngữ Việt - Anh) của Phạm Thị Phương Thảo, ta không khỏi ngỡ ngàng trước những vần thơ tình vừa giàu trải nghiệm vừa rất trẻ trung của chị. Hai cái lực trái chiều vừa hút vừa đẩy nhau ấy đã cho thấy niềm khát khao làm mới đề tài tình yêu từ muôn đời trong thơ của người cầm bút. Chị coi tình yêu là cái đẹp vĩnh hằng, như là một thứ tôn giáo thiêng liêng...

Tình yêu luôn là một đề tài vĩnh cửu của thi ca, là mảnh đất mỡ màu đã sản sinh ra những áng thơ hay nhất trong lịch sử nhân loại. Đó là hai cái đẹp cùng được xuất hiện trong trạng thái hưng phấn cao độ, khiến trái tim nhạy cảm bừng thức, để rồi con người có được những giây phút xuất thần. Vì thế, giữa chúng sớm hình thành một mối quan hệ gắn bó, giăng díu mặn nồng. Nếu tình yêu là cội nguồn, là sức sống thanh tân của thi ca, thì thi ca lại làm cho tình yêu trở nên lộng lẫy, bí ẩn và đầy quyến rũ.

Khi đọc “Yêu như là tình cuối” (tập thơ tình song ngữ Việt - Anh) của Phạm Thị Phương Thảo, ta không khỏi ngỡ ngàng trước những vần thơ tình vừa giàu trải nghiệm vừa rất trẻ trung của chị. Hai cái lực trái chiều vừa hút vừa đẩy nhau ấy đã cho thấy niềm khát khao làm mới đề tài tình yêu từ muôn đời trong thơ của người cầm bút. Chị coi tình yêu là cái đẹp vĩnh hằng, như là một thứ tôn giáo thiêng liêng

 Xuyên suốt trong tập thơ tình của Phạm Thị Phương Thảo là hình ảnh một người đàn bà từng trải. Nhưng trong lồng ngực thiếu phụ ấy lại rộn ràng nhịp đập trái tim thiếu nữ. Điều này làm cho bức chân dung tâm hồn của nữ sỹ trở nên đa kênh, đa hệ, vừa truyền thống vừa hiện đại. Một mặt thơ chị có cái chất lạ, sâu sắc, an nhiên của người đàn bà ở độ chín của tuổi tri thiên mệnh:“Đi hết ngày rồi ắt sẽ sang đêm” (Tình yêu màu nhiệm); mặt khác lại có cái cuống quýt, bồng bột của những tín đồ yêu ở cái tuổi đương thì khát sống, thèm yêu “đắm đuối như không thể đắm say hơn” (Cho một ngày sinh), cứ như “dòng nham thạch núi lở tuôn trào…” (Món quà của Chúa).

Nhà thơ Phạm Thị Phương Thảo (hàng đầu, thứ hai từ trái qua) tại lễ ra mắt tập thơ song ngữ "Yêu như là tình cuối".
Nhà thơ Phạm Thị Phương Thảo (hàng đầu, thứ hai từ trái qua) tại lễ ra mắt tập thơ song ngữ "Yêu như là tình cuối".

Dù vẫn biết, thơ tình vốn là thế mạnh của những cây bút nữ, nhưng quả là quý khi một người đàn bà ở lứa tuổi này mà còn say thơ, mê thơ, tôn thờ thơ, đắm đuối vì thơ; khát khao yêu, tận hiến cho tình yêu và thành thực với lòng mình như Phạm Thị Phương Thảo. Biên độ dao động của con tim chị trở nên khó đoán định: lúc lú lẫn mù lòa, khi đặc biệt tỉnh táo. Nhờ thế mà chị có thể tận hưởng niềm hạnh phúc và thụ hưởng những giá trị văn hóa của tình yêu ở rất nhiều cung bậc.

 Như một con chiên ngoan đạo, chị mặc niệm tình yêu là thiêng liêng, là tôn giáo để phụng thờ. Tình yêu là một thứ quyền năng vô hạn, vĩnh cửu và tuyệt đối:

Quyền năng của tình yêu là muôn đời bất tử
Sẽ nâng đôi cánh bay và cứu rỗi cả thế gian này

(Tình yêu nhiệm màu)

Một khi đã được thiêng hóa thì nó không được phép diễn tả bằng ngôn ngữ đời thường. Nên Phương Thảo không ngần ngại gửi gắm tình yêu của mình vào những hiện tượng tự nhiên dữ dội như: mưa biển, gió cuồng, núi cao, biển lớn, ngực sóng, sấm chớp, bão dông… Để cho tình yêu xuất hiện trong trạng tột đỉnh của sự dâng hiến:

Tình yêu như trận cuồng phong, như dòng nham thạch tuôn trào

(Món quà của Chúa)

Tình yêu vụt đến trong niềm hạnh phúc ái ân, trong tiếng sét ái tình huyền diệu:

Người đàn ông như tiếng sét ái tình vụt qua
Em sung sướng hứng trọn thứ ánh sáng nóng bỏng
Và huyền diệu

(Cho một ngày sinh)

Khước từ thứ tình yêu ép xác để tỏa sáng phần hồn, Phạm Thị Phương Thảo hướng đến một tình yêu theo đúng nghĩa của nó: phồn sinh, phong phú, đa dạng - là nơi gặp gỡ giữa hai thái cực, vừa mang giá trị tinh thần cao quý vừa có cả những khát thèm và dục vọng

Rộng lượng và ích kỷ
Nâng niu và hyền bí
Thiêng liêng và phồn thực
Đắm say, đẹp, buồn và đau đớn, cùng vỗ cánh
Bay lên…

(Tình yêu nhiệm màu)

Bất chấp hệ lụy, người đàn bà trong thơ chị không bỏ lỡ cơ hội, dám hứng tia chớp xanh vụt qua đời mình (Điều huyền diệu) rồi kiêu hãnh đối diện với mọi thử thách mà không hề hối tiếc:

Ta đón chờ hạnh phúc như một sự nhiệm màu
Ta cũng không né tránh và khước từ bi kịch
Bởi tình yêu cho ta sức mạnh, ý chí và niềm tin
Hiến dâng trọn vẹn

(Tình yêu nhiệm màu)

Phải chăng Tình yêu nhiệm màu chính là lời tuyên ngôn về tình yêu của Phạm Thị Phương Thảo? Và để tạo ra được bầu khí quyển cho tình yêu làm tổ, chị đã lựa chọn một hệ thống ngôn từ mới lạ... Sóng trong thơ Phạm Thị Phương Thảo không dịu dàng mà chồm lên dữ dội; dòng nham thạch núi lửa thì không ngớt tuôn trào; đêm trong trạng thái lắc lư, con tàu thì răng rắc vặn mình, trăng và em đều trong tư thế cong lơi, chờ đợi…

Những động từ chỉ cảm giác mạnh đó đã làm cho tình yêu trong thơ Phạm Thị Phương Thảo không tĩnh mà sống động, đầy sinh khí. Nhờ thế mà dòng cảm xúc của người viết trở nên chân thực; vạn vật như được thổi hồn vào, khiến những cử chỉ, bàn tay, ánh mắt đều biết nói, còn thiên nhiên bỗng trở nên dào dạt, đa tình và nồng nã mùi yêu.

Dường như mọi khát khao trần tục đều được chị khéo léo thể hiện gián tiếp qua thiên nhiên nên đọc thơ Phạm Thị Phương Thảo người ta không thấy nhuốm mùi tục lụy. Chùm thơ sen 5 bài: Nụ đêm, Sen muộn, Sen hát, Mơ sen, Sen buồn, Thảo viết mùa hè 2017 (Không có trong Yêu như tình cuối) là một ví dụ. Ở đó, người đàn bà yêu hơn người và cũng nhạy cảm hơn người không hướng ngoại để miêu tả vẻ đẹp và giá trị cao quý của quốc hoa mà bằng cái nhìn hướng nội, tác giả đã làm toát lên vẻ đẹp sâu thẳm, cao khiết, khác lạ của tâm hồn người phụ nữ Việt thời hiện đại, với bao khát khao giao cảm với đời.

Bìa tập thơ "Yêu như là tình cuối" của Phạm Thị Phương Thảo.
Bìa tập thơ "Yêu như là tình cuối" của Phạm Thị Phương Thảo.

Nhân vật trữ tình trong thơ Phạm Thị Phương Thảo rất hiện đại, dù chệch chuẩn nhưng không nổi loạn, mới mẻ mà vẫn giữ được sự cân bằng, vẫn mang những phẩm chất truyền thống nhưng lại không ngừng biến ảo. Sau cuồng phong lại là những ngọt ngào, run rẩy, dịu êm; sau những kiếm tìm vô vọng là niềm tin vào những điều tốt đẹp, sau khổ đau ắt là hạnh phúc… Nên dù đam mê là thế nhưng người đàn bà yêu vẫn cứ nuốt nỗi khát vào sâu tận đáy lòng chỉ để con tim của mình âm thầm gửi niềm thương cho gió:

Gió cũ lang thang tóc mây
Trái tim cất lời da diết

(Đêm nhớ)

Có lẽ giống như những người đàn bà đồng trang lứa, suốt đời như mặt trăng tỏa sáng vì người khác, họ đã gồng mình để giữ mái ấm gia đình nhưng vẫn không ngừng băn khoăn: vì sao suốt đời ta chỉ yêu duy nhất một người. Đó là điểm khác biệt giữa họ và các cô gái thời @. Đó có thể là chút bi kịch của một tình yêu vô vọng, đẹp, buồn, nồng nàn và lãng mạn. Tình yêu trở nên lý tưởng trong mơ ước khát vọng mãi mãi.

Không buồn ảo não;
Ở khúc ngoặt cuối cùng
Vẫn tin chắc rằng ta hạnh phúc

(Cứ yêu nồng nàn như lần cuối)

Song song với một quan niệm mới mẻ về tình yêu, Phạm Thị Phương Thảo luôn ý thức và ráo riết trong việc kiếm tìm để đổi mới thi ca. Ý đồ đổi mới thơ của tác giả được thể hiện rõ ngay từ bài đầu tiên trong tập. Đó là một bài thơ văn xuôi về nỗi buồn thu với những thi ảnh và cách tư duy mới lạ:

“Chợt bắt gặp sắc chín trong vòm lá. Day dứt chi những chiếc lá vàng? Run run trong gió rồi rụng vào nỗi nhớ. Mùa đã xanh mà em đã vội thu? Người về đâu nụ cười rạn vỡ? Bước chân ai héo buồn lưu giữ cả mùa thu?

… Để em thành chiếc lá
Chiếc lá rất mềm, chếc lá rất xanh.
Rụng khẽ xuống môi mùa…”

 (Để em thành chiếc lá)

Không phải vô cớ mà trong tổng số 30 bài của tập thơ “Yêu như là tình cuối” chỉ có hai bài ở thể lục bát ngắt dòng. “Rót” có cội nguồn lục bát, có hơi hướng lục bát. Nhưng tác giả đã có ý thức đổi mới bằng cách tháo dỡ cấu trúc của từng câu lục bát. Không thấy ở đây kiểu câu thơ 6/8 với lối gieo vần, ngắt nhịp thông thường, mà có cặp lục bát được chia làm 3 dòng, thậm chí 4 dòng một cách uyển chuyển, linh hoạt:

Lẳng lơ bởi cái duyên trời
Tỉnh tình tinh
Uống
Cạn lời bão dông

(Rót)

Riêng Phạm Thị Phương Thảo hầu như vẫn yêu thích lối thơ theo thể tự do, số câu chữ được thay đổi theo yêu cầu của nội dung diễn đạt, tha hồ tung tẩy.

“Yêu như là tình cuối” là một món quà chị gửi tặng bạn bè và độc giả của mình, cho thấy được khát vọng đổi mới quyết liệt thơ và tấm lòng thành thực đam mê với tình yêu của người thơ Phương Thảo. Như đôi cánh nhiệm màu, “Yêu như là tình cuối” đã giúp cho thơ chị bay lên…

PGS - TS Trần Thị Trâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).