Trai - cốp cô Nha

Còn nhớ những ngày đầu, khi tôi vừa mới chuyển ngành từ quân đoàn 26 về nhận công tác tại Ty Văn hoá Thông tin tỉnh Cao Bằng (những năm 80 của thế kỷ trước còn gọi là ty, chưa xê dịch thành sở như bây giờ). Dí nó! Tôi quên phắt cái tên người nói háp háp giọng vịt đực vào một bên tai: “Ở Cao Bằng chúng mình có “Nhạc viện Trai - cốp cô Nha” đấy!”. “Thật không?”. “Ông tưởng tôi nói đùa à!”.

Khi đó tôi vô cùng ngạc nhiên, cũng có phần thích thú và tò mò nữa. Tại sao ở cái nơi ho một tiếng, lập tức có bốn năm tiếng ho từ những vách núi kia dội lại. Xa xôi hẻo lánh đến thế lại có một nhạc viện đàng hoàng, mang tên một người khổng lồ trên toàn thế giới. Một thị xã trập trùng núi đá vôi thở lẫn với người hàng ngàn đời nay bỗng dưng nổi tiếng. Một phố thị bình lặng như giếng trời, ấy thế cũng có khá nhiều anh trung tuổi, đến các cụ già hưu trí cũng biết Trai cốp xki. 

Ông - một nhà soạn nhạc lừng danh người Nga, ở thời kỳ Lãng mạn. Ông đã để lại những bản giao hưởng cổ điển bất hủ. Điển hình nhất là nhạc vũ kịch “Hồ thiên nga” và bản giao hưởng “Romeo và Juliet”. Âm nhạc của ông mang một vẻ đẹp sang trọng của giới quý tộc Nga, vang vọng đến mọi thời đại, mọi quốc gia và mọi dân tộc. Vậy, ông nhạc sĩ thiên tài ấy có liên quan gì tới chị Hoàng Quỳnh Nha, một cô gái người Tày quê ở tận Bản Bó xã Phù Ngọc gần chợ Nà Giàng xa xanh này. Mãi về sau tôi mới vỡ lẽ. A! Trai cốp cô Nha là như vậy.

Nghệ sĩ Ưu tú Hoàng Quỳnh Nha dạy hát Then cho thiếu nhi.
Nghệ sĩ Ưu tú Hoàng Quỳnh Nha dạy hát Then cho thiếu nhi.

Vào những năm 70 của thế kỷ trước, Ty Văn hoá Thông tin Cao Bằng có thành lập một trường sơ cấp Văn hóa Nghệ thuật. Nơi dành riêng cho các cháu là con em các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao… có năng khiếu nghệ thuật đến học. Trường do NSUT Hoàng Quỳnh Nha làm Hiệu trưởng. 

Chị vừa đảm nhiệm vai trò chính trong Ban Giám hiệu, vừa trực tiếp giảng dạy bộ môn đàn và hát dân ca Tày - Nùng. Học trò của chị gồm đủ các thành phần, nào là học sinh các cấp II, III thậm chí có cả các anh bộ đội từ các đội Tuyên văn trong Quân đoàn 26 cử đến học tập. Đây là một ngôi trường Văn hóa Nghệ thuật đầu tiên của tỉnh, nhằm phát hiện năng khiếu, bồi dưỡng và đào tạo các con em sau này làm công tác tuyên truyền văn hoá nghệ thuật. Vì học trò quá yêu mến cô giáo của mình, nên họ đặt một cái tên vui vui như vậy.

Chị Hoàng Quỳnh Nha là một nghệ sĩ hát dân ca Tày Nùng nổi tiếng không chỉ ở Cao Bằng, mà còn lan ra các tỉnh Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang lân cận. Ở chị thừa hưởng sắc đẹp nền nã từ người mẹ và sở hữu một giọng hát truyền cảm ngọt ngào sâu lắng của cha. Chị làm thổn thức hàng vạn con tim người nghe. 

Chị đúng là chim sơn ca của núi rừng Cao Bằng thời bấy giờ. Khi chim sơn ca xuất hiện nơi chợ búa, làm người bán thịt bán rau lỏng đôi tay đếm tiền. Và người mua cũng mỏi mềm đôi tay cầm gói. Nhiều cẳng chân đang đi bỗng khựng lại. Người người trong chợ xúm đến trầm trồ chiêm ngưỡng vẻ đẹp của chị. Chim sơn ca xuất hiện ở nơi đồng ruộng, những người nông dân chân lấm tay bùn cũng họ trâu đang cày đứng lại, kiếm cớ vui vui chào hỏi: “Sơn ca ơi đêm nay có biểu diễn đâu không em?”. “Có đấy anh à. Tại đình chợ Co Xàu anh nhé. Nhớ nấu cơm sơm sớm vào”.

Ngày ấy tôi là một cậu học trò lớp Một trường huyện. Tranh thủ lúc nghỉ học, tôi lẵng nhẵng theo sau chị như theo một bức hình. Bức hình vẽ chân dung một cô gái với những đường nét thanh tú, cân đối, màu sắc hài hòa. Bức hình có lúm đồng tiền vừa đi vừa thơm. Một mùi thơm của nắng sớm lọt qua rừng hoa tiếm biếc. Bức hình vừa đi vừa cười chào tất cả mọi người. Tôi cứ lặng lẽ bước theo chân của chị. Tôi không biết mình đang đi đâu và để làm gì. Vừa đi vừa run như cún con. Cún con khe khẽ liếm chiếc bóng chị trên đường và cất tiếng rên thinh thích. 

Không thể ngờ rằng mấy chục năm sau, tôi được làm việc cùng với chị trong một đơn vị sự nghiệp quản lý văn hoá. Trong mắt tôi, lúc nào chị Hoàng Quỳnh Nha vẫn luôn là một cô gái Tày thuần khiết. Từ giọng nói, điệu cười, bước chân, đưa tay…tất cả đều tự nhiên, thanh thoát, uyển chuyển, nhẹ nhàng. 

Đặc biệt ở chị có lối sống chân thành, không bao giờ nói dối. Chị thân thiện đối với tất cả bè bạn, mọi lứa tuổi. Tôi nghĩ, chắc chả bao giờ chị giận ai dù chỉ một thoáng, càng không bao giờ nói lời lép, lời giả, lời chua cay cho dù với bất cứ ai. Còn với tôi khi đó, chị là một người chị gái quán xuyến lo toan mọi công việc của cơ quan như chính trong một gia đình.

Một buổi sinh hoạt của Câu lạc bộ đàn Tính - hát Then.
Một buổi sinh hoạt của Câu lạc bộ đàn Tính - hát Then.

Chị Hoàng Quỳnh Nha sinh ra trong một gia đình có người cha là tào Sìu. Ông nổi tiếng nhất vùng Nà Giàng, Háng Tháng, Háng Slôc là người giỏi chữ Hán và nôm Tày. Ngoài ra ông còn có pháp thuật cao tay, trị được tất cả các loại ma quỷ trên rừng dưới bể, kể cả những đám ma gà đang sống lẫn sống chung với dân làng. 

Chị tiếp xúc với không gian khói hương ngay từ ngày còn trong bụng mẹ. Tất cả các ngón đàn điệu hát tàng bốc đường bộ, tàng nặm đường thủy, nài sli của người Giang, hà lều của người Nùng, nàng ới, lượn then của người Tày… chị đều thuộc làu làu. Hễ ở đâu có đám lẩu pụt mừng thôi nôi đứa trẻ, hay lẩu tào cấp sắc, thể nào chị cũng đốt đuốc xuyên rừng đến nghe. 

Hình ảnh một cô bé tóc đuôi gà, má đỏ bồ quân, mắt sáng như sao ngồi sát ngay bên bà bụt. Cô bé chăm chú nhìn tay bà cầm quạt, còn tay kia xóc nhạc. Giọng hát khàn khàn của bà bụt rót vào tai cô bé ngon như cốm ép, không sót một chữ nào.

“Roong roong mạ te cai nỏ
Đếch ké
Mò vài
Pết cáy khoái phiến tàng phiến lỏ
Sle binh mạ khửn tàng
Khử mường bân páo xình Ngọc Hoàng a nỏ
Rú rú…..rừ rừ ….

Roong roong ngựa lên đường
Nào người già người trẻ
Nào trâu bò
Nào dê lợn
Nào gà vịt
Mau mau tránh đường
Để binh mã lên kịp tấu trình
Ngọc Hoàng thượng đế ngài đang chờ
Rú rú…rừ rừ”.

Bóng bà bụt lắc lư lảo đảo trong ánh đèn dầu trông như ma quái. Lúc thì bà nghiêng bên này, khi thì ngả sang bên kia. Người bà chênh vênh lung lay như cây bị đốn sắp đổ, nhưng không bao giờ đổ. Miệng bà vừa hát vừa lúp lắp nhai trầu. Tiếng hát bà có mùi thơm nồng của vôi, thở ra có mùi thơm cay của trầu lá. Chỗ bà ngồi trở thành tâm điểm của đêm hát. Lâu lâu bà dừng, ngồi kháo chuyện với mọi người và nhổ một tiếng bẹt vào ống nứa. 

Kháo xong, bà phắc một tiếng, xoạt một cái, chiếc quạt mở ra, chùm nhạc trong tay roong roong nào ngựa ơi ta lại lên đường. Tiếng bà rú rít xầm xập như trời đổ mưa. Khi khoan thai như đàn nai sải vó. Lúc nhịp nhàng như ánh trăng rơi rơi lấp lánh trên sông. Lúc thủ thỉ như chuyện tình hai người ngồi bên đống lửa. Cô bé há hốc mồm ngồi nghe mà quên cả đói quên cả khát quên cả cơn buồn ngủ.        

Chị là người Tày đầu tiên được Nhà nước phong Nghệ sĩ Ưu tú năm 1993. Niềm vinh dự lớn lao này không chỉ riêng cá nhân chị. Mà còn là niềm vui, niềm tự hào của nhân dân các dân tộc Cao Bằng. Tôi nhớ khi đó chị được cơ quan tài trợ cho làm lại bộ răng để xuống nhận bằng. Tôi nhìn thấy chị vui như áo mới bước vào phòng ông Giám đốc sở. “Chài ơi! (Anh ơi!)”. “Cái gì thế?”. “Hất đảy dá, khẻo à. Tọ cải lai (Làm được rồi. Răng mà. Nhưng hơi to một chút)”.

Năm 1960, chị Quỳnh Nha được tuyển vào Đoàn Văn công Cao Bằng, lần lượt là diễn viên, Đoàn phó Văn công tỉnh, giảng viên, Hiệu trưởng Trường Nghệ thuật tỉnh… Nhìn lại con đường lao động nghệ thuật của mình, dù ở cương vị nào chị cũng dốc lòng vì công việc. Chị kể những chuyến đi biểu diễn từ tỉnh xuống huyện, rồi từ huyện xuống xã. Có lúc phải đi bộ cả ngày đường, phồng rộp cả đôi bàn chân. Còn phông màn trống kèn đèn măng xông …thì chất lên lưng ngựa. 

Chị vừa kể vừa mếu, thương bà con gian khổ thiếu thốn ở vùng sâu vùng xa. Nhưng bù lại anh chị em diễn viên được bà con trong bản ùa ra tiếp đón thân tình. Họ lôi kéo các chị về từng nhà như người thân, hỏi xem có mệt không? Có cần ăn chút gì không? Có cần nằm nghỉ không? Tình cảm giữa bà con miền núi với nhau không thể lấy gì đong đếm. Nhiều hôm chị mang thùng ra mỏ gánh nước thì bị chủ nhà “mắng”: “Người múa mềm như lạt, hát ngọt như mac kham pha đường. Ai cho cô làm việc này. Thôi để đấy”. “Ở nhà em vẫn…”. “Ở nhà khác, ở đây khác. Ở đây cô là người nhà trời, khách quý của bản”.

Khi biết tôi sắp xuống Hà Nội công tác. Chị rón rén: “Em cho chị gửi một ít bánh khảo biếu anh Nông Quốc Chấn. À quên. Cái này là để em và chú lái xe. Vừa đi vừa nhấm nháp để chống buồn ngủ”. “Gì thế chị?”. “Bí mật. Qua khỏi Đèo Giàng mới được mở”. “Chị làm em “đồ” hộp quá!”.

Tôi về ở trọ Thủ đô, còn chị vẫn mãi là cô gái Tày, mãi đẹp, mãi xinh trong mắt bao người dân bản… 

A Đủ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).