"Trà Giang thu nguyệt ca": Một kiệt tác văn chương

Cao Bá Quát (1808-1855), tên chữ là Chu Thần, hiệu Mẫn Hiên, người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội. Xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học, tài hay chữ vào bậc nhất đương thời. Người đời tôn vinh ông là Thánh Thơ (Thi Thánh).

Thơ Cao Bá Quát còn lại khoảng 1.500 bài, chủ yếu là thơ chữ Hán. Thơ chữ Hán Cao Bá Quát chẳng những phong phú về nội dung, mà còn đặc sắc về nghệ thuật. Hình ảnh TRĂNG được nhà thơ sử dụng như một biểu tượng hàm ẩn để ký thác tâm trạng, tinh vi và sâu sắc. "TRÀ GIANG THU NGUYỆT CA" là một trong những bài thơ đặc sắc của Cao Bá Quát.

Phiên âm:

Trà giang nguyệt
Kim dạ vị thuỳ thanh?
Quan sơn vạn lý hạo nhất sắc,
Hà xứ bất hệ ly nhân tình?
Cử bôi thi yêu nguyệt
Nguyệt nhập bôi trung hành.
Hàm bôi dục yết cánh phi khứ
Chỉ hữu nhân ảnh tương tung hoành.
Đinh bôi thả phục trí
Hựu kiến cô quang sinh
Vấn quân hà sự luyến luyến bất nhẫn xả?
Ngã thị Trúc Lâm cùng đồ chi Bộ binh!
Giang đầu thử tịch phùng thu tiết
Tửu mãn tu khuynh vị quân thuyết:
 Đà môn cựu lữ Tồn Chân ông
Cần Hải minh tiên hiểu tương biệt.
Tạc dạ kim phong hạ thiên khuyết
Bạch lộ, thanh sương sảo xâm cốt 
Nhân sinh hội ngộ an khả thường?
Hữu tửu thả ẩm Trà giang nguyệt!
Trà giang nguyệt!
Như kính hạ ngân lưu
Trượng phu án kiếm khứ tiện khứ
Kỳ lộ vô vi nhi nữ sầu!

Tranh vẽ thi nhân Cao Bá Quát.
Tranh vẽ thi nhân Cao Bá Quát.

Dịch nghĩa:

BÀI CA "TRĂNG THU SÔNG TRÀ"

                (Tặng bác Bảo Xuyên đi quân thứ ở An Giang)

Trăng sông Trà!
Đêm nay vì ai mà trong trẻo?
Muôn dặm quan san một màu trắng xoá
Chỗ nào là chỗ không vướng vít tình người biệt ly?
Cất chén thử mời trăng
Trăng vào đi trong chén.
Ngậm chén toan uống thì trăng lại biến mất
Chỉ còn có bóng người dọc ngang.
Ngừng chén và đặt xuống
Thì lại thấy vành sáng hiện ra.
Hỏi trăng vì sao cứ quyến luyến không nỡ bỏ?
Ta chỉ là anh Bộ binh gặp bước đường cùng trong bọn Trúc Lâm
Tối nay, gặp tiết thu trên ngọn sóng
Muốn nghiêng bầu rượu đầy để nói cho trong trăng biết:
Bạn cũ của ta ở cửa Đà Nẵng là bác Tồn Chân
Đến sáng mai sẽ thúc ngựa đi cửa bể Cần Giờ.
Đêm trước, gió vàng đã từ cửa nhà trời thổi xuống,
Móc trắng sương trong đã bắt đầu lạnh buốt đến xương.
Ở đời, muốn gặp gỡ nhau luôn không được
Có rượu đây, hãy uống với trăng sông Trà
Trăng sông Trà!
Như tấm gương dầm dưới dòng nước bạc,
Là người trượng phu đã chống gươm đi là đi thẳng
Chẳng bắt chước như đàn bà con trẻ, bịn rịn trong lúc phân kỳ!

DỊCH THƠ

Bản dịch của Vũ Bình Lục:

Trăng sông Trà! Trăng sông Trà!
Vì ai trong trẻo ngọc ngà đêm nay?
Quan san muôn dặm màu mây trắng,
Chỗ nào không vương vấn biệt ly?
Mời trăng một chén, ngại chi?
Trăng vào trong chén, trăng đi bên người.
Ngậm chén uống, trăng bay đi mất,
Quẩn quanh đây vương vất bóng người.
Ngừng tay, chén đặt xuống rồi,
Kìa trăng lại đến mỉm cười với ta.
Hỏi rằng trăng cớ sao quyến luyến,
Ta "đường cùng" trong đám Trúc Lâm?
Đêm nay thu mát trên sông,
Muốn nghiêng bầu rượu nói cùng trăng hay:
Bạn ta, bác Tồn Chân Đà Nẵng,
Sáng mai đây phải đến Cần Giờ.
Móc sương buốt tấm thân xơ,
Gió vàng thổi xuống "ơn nhờ" Thiên Môn.
Ở đời, muốn gặp nhau chẳng dễ,
Uống cùng trăng, ta sẵn rượu thơm.
Sông Trà trong vắt như gương,
Gương trăng đáy nước vấn vương với người.

Chống gươm đi khắp gầm trời,
Trượng phu há để thói đời cản ngăn!

 Ở Quảng Ngãi, nhân một đêm trăng bên sông Trà, Cao Bá Quát có cuộc chia tay với một người bạn, là ông Tồn Chân. Ông này được phái đi quân thứ ở Cần Giờ, nên có bài thơ này.

Cũng như "Sa hành đoản ca", "Trà giang thu nguyệt ca" là bài thơ viết theo thể "ca", một thể thơ không bị câu thúc bởi những quy phạm chặt chẽ của các loại cổ thi truyền thống. Câu ngắn câu dài, tuỳ theo mạch cảm xúc của tác giả, do đó, tình thơ ý thơ tung tẩy phóng túng, hoà quyện ngân nga, khi lãng đãng khói sương, khi phập phồng gió cuốn mây bay, khi vút cao như tiếng hạc kêu đầu núi…Tóm lại, nó là một thể thơ rất hợp với phong cốt của Cao Chu Thần!

Mở đầu, đã thấy Cao thi sĩ cất lên lời ca gọi trăng. Và hỏi trăng "vì ai mà sáng trong đến thế?". Tứ bề, chỉ thấy một màu trăng trắng xoá, mê đắm hữu tình, như thể "khắp nơi vương vấn tình người xa nhau"…

Như thế là trăng kia cũng cảm thấu lòng người, hay lòng người đã sẵn có tâm trạng biệt ly, nên nhìn trăng mà nghĩ ngợi xa xôi, mà cảm thấy như khắp nơi đều vương vấn màu ly biệt? Quả là một câu thơ thực ảo hoà trộn vào nhau, tình và cảnh hoà trộn vào nhau, gợi nỗi buồn man mác, phảng phất phong vị Đường thi.

Rồi thì "cất chén thử mời trăng / trăng vào đi trong chén". Và khi "đỡ chén lên môi, thì trăng lại vụt biến / chỉ còn thấy bóng người đang dọc ngang"… Đến khi đặt chén xuống", lại thấy trăng hiện về bóng lại long lanh". Mới hỏi trăng, rằng "vì sao quyến luyến mà không nỡ đi như vậy?".

Đoạn thơ mời trăng uống rượu, thấp thoáng hơi hướng bài "Tương tiến tửu" của Lý Bạch đời Đường bên Tàu, nhưng tuyệt nhiên không phải là một sự sao chép thô thiển. Cao Chu Thần sử dụng thi liệu Đường thi, nhưng đã chuyển hoá một cách tài tình. Trăng thu sông Trà của ông uyển chuyển sinh động hơn, thoắt ẩn, thoắt hiện, như một người bạn rất xa mà lại rất gần, quyến luyến như người tri âm tri kỷ. Lý Bạch ôm cái cô đơn, cô độc, bảo rằng: "Trăng đã không biết uống / bóng chỉ quẩn theo ta". Trăng thu sông Trà của Cao Bá Quát gần gũi, giàu nhân tính, sẻ chia đồng điệu và đầy ắp long lanh, đầy ắp nhân tình…

Mời trăng uống rượu, rồi lại than thở về thân phận của mình, nói rằng: Ta, rốt cục, cũng chỉ là "anh Bộ Binh gặp bước đường cùng trong bọn Trúc Lâm". Mà bọn Trúc Lâm kia là ai vậy? Chính là "Trúc Lâm thất hiền" đời xưa, cũng ở bên Tàu, trong đó có ông Bộ Binh Nguyễn Tịch. Nhà thơ mượn tích này, để mô phỏng hình ảnh của chính mình, mô phỏng cái sự bi đát của kẻ cùng đường đấy thôi!...

"Tối nay, gặp tiết thu trên ngọn sông / muốn nghiêng bầu rượu đầy để nói cho trong trăng biết / bạn cũ của ta ở cửa Đà Nẵng là bác Tồn Chân / đến sáng mai sẽ thúc ngựa đi cửa bể Cần Giờ"…

Thế nghĩa là người bạn của tác giả, sớm mai sẽ lại đi quân thứ, mãi tận cửa biển Cần Giờ xa xôi, nhiều gian khổ và bất trắc. Nhưng sao lại phải "nghiêng bầu rượu đầy để nói cho trong trăng biết" (vị quân thuyết)? Một thông báo, mà đối tượng nghe thì vừa cụ thể, lại dường như rất mơ hồ. Câu sau, lại còn có vẻ mơ hồ nữa: "Đêm trước, gió vàng đã từ cửa nhà trời thổi xuống / Móc trắng sương trong đã bắt đầu lạnh buốt đến xương"…

Hoá ra là một câu thơ đầy ẩn ý mỉa mai chua chát. Rằng tên tội thần họ Cao đang ngồi đây, cũng đã từng "đội ơn mưa móc" của "Nhà trời", đã "hàm ơn" đổ xuống một trận "gió vàng", để cho đến bây giờ "móc trắng sương trong đã bắt đầu lạnh buốt đến xương"! Tác giả có lẽ đã thấm thía vô cùng cái thứ "gió vàng" mà ông đã phải "mang ơn", bây giờ đã bắt đầu "lạnh đến xương"!

Chắc là thi nhân bị lưu đày muốn nhắc tới những "kỷ niệm không vui" của quãng đời cay đắng vừa nếm trải, tức những cuộc tra tấn dã man mà triều Nguyễn đã dành cho tội thần họ Cao trong tù ngục vừa qua. Hoàn cảnh thực tế không cho phép tác giả nói ra sự thật đau đớn mà cuộc đời ông vừa nếm trải, nên tác giả phải dùng ẩn dụ xa xôi, để gửi gắm tâm sự thầm kín của mình. "Tai vách mạch rừng", kẻ tiểu nhân cầu lợi váng vất đó đây, không thể không giữ mình cẩn thận!

Rồi ca tiếp: "Ở đời, muốn gặp nhau luôn không được/ có rượu đây, hãy uống với trăng sông Trà / trăng sông Trà/ như tấm gương dầm trong dòng nước bạc" ! Ý nghĩ và tình cảm cứ theo hơi men mà tung tẩy, mà đưa đẩy uyển chuyển biến hoá khôn lường. Chúng ta, bác Tồn Chân và Chu Thần tôi, với cả trăng sông Trà nữa, hãy cùng nhau lại nâng chén mà "rót đau lòng ấy vào đau lòng này" (Trần Huyền Trân)…

Bài ca kết thúc bằng một câu bi tráng: "Trượng phu án kiếm khứ tiện khứ / kỳ lộ vô vi nhi nữ sầu" ! Cao thi sĩ nói với ai? Chẳng phải là nói với bạn Tồn Chân ư? Chẳng phải là nói với chính mình ư? Với Trăng sông Trà ư? …

Quả là một kiệt tác, hiếm thấy trong văn chương đương thời. "Trà giang thu nguyệt ca" ôm chứa một hồn thơ khoáng đạt. Nó hoàn toàn không phải là một thứ kỹ xảo văn chương vờ vĩnh. Nó chính là gan ruột của thầy Cao, chân thành đắm đuối, trong trẻo như trăng sông Trà. Những câu thơ đầy bản lĩnh của Cao Chu Thần, khiến người đọc không thể chỉ đọc bằng mắt, cho dù là "mắt xanh" đi nữa!

Hà Nội 10-7-2010

Vũ Bình Lục

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).