Tôi viết “Tôi và làng tôi”

Ngày 12/9/2023 tròn 5 năm ngày cuốn hồi ức “Tôi và làng tôi” ra trình làng. Tác phẩm ấn hành lần thứ nhất năm 2018, lần thứ hai năm 2019 (NXB Hội Nhà văn), và in lần thứ ba năm 2020 (NXB Thanh Hóa). Đây là tác phẩm đã được tôi ấp ủ hàng chục năm. Câu cuối cùng của cuốn sách này tôi viết: “Giã biệt làng Nguyệt Lãng yêu thương, ngày 4 tháng 8 năm 1964, trong một ngày đẹp trời, tại Ga Hàng Cỏ Hà Nội, tôi lên tàu liên vận sang Ba Lan du học”.

Tôi xa làng kể từ ngày ấy. Tuy nhiên, đó chỉ là xa về khoảng cách địa lý. Tôi xa làng, nhưng ngày nào làng cũng ở trong tôi. Làng ở trong tôi khi tôi thức, làng ở trong tôi ngay cả khi tôi ngủ. Tôi ở trong làng và làng ở trong tôi. Nhiều đêm tôi chiêm bao thấy mình đang ở làng, đang chơi bời nhảy múa với các bạn cùng trang lứa, đang làm xã viên hợp tác xã nông nghiệp, đang gánh phân, nhổ mạ, đang bắt cua, bắt ốc, bắt ếch, kiếm cá, đang chăn bò trên cánh đồng làng, đang cắp sách cuốc bộ đến trường, đang xem phim “Bạch Mao Nữ” tại bãi chiếu bóng ngoài trời… Những ký ức về làng chất chồng trong tôi năm này qua năm khác. Tôi đã ấp ủ, tôi đã tự nhủ, tự hứa với làng và với cả chính tôi là nhất định tôi sẽ viết về làng, về quê Thanh.

le ba thu - ra mat toi va lang toi.jpg -0
Nhà văn Lê Bá Thự ra mắt “Tôi và làng tôi''.

Đọc cuốn “Tôi và làng tôi” bạn đọc nhận ra, tôi và làng tôi những năm 50 và 60 thế kỷ XX diện mạo ra sao, sướng khổ như thế nào. Khi viết cuốn sách này tôi luôn luôn ý thức một điều rằng, làng Nguyệt Lãng trong sách của tôi phải y chang làng Nguyệt Lãng năm xưa, Lê Bá Thự trong cuốn sách này phải y chang Lê Bá Thự năm xưa. Trung thực là bút pháp của tôi. Không tô son, không trát phấn. Lẽ dĩ nhiên trung thực nhưng phải sinh động và hấp dẫn. Tất cả những gì tôi viết trong cuốn sách này đều là những sự thật mà tôi là người trong cuộc, tôi là người trải nghiệm, tôi là người chứng kiến. Tôi viết những gì tôi tận mục sở thị hồi tôi sống ở làng. Có lẽ bạn đọc không khó nhận ra giọng điệu Lê Bá Thự, “cái tôi” Lê Bá Thự trong cuốn sách này. Bản sắc, tính cách xứ Thanh trong tác phẩm của tôi cũng được biểu đạt rất rõ nét từ đầu đến cuối, mà phương ngữ, thổ ngữ, tiếng địa phương hay giọng Thanh Hóa sử dụng trong sách là một minh chứng. Trung thực giúp tôi chuyển tải thông điệp của tôi một cách hữu hiệu, dễ đi vào lòng người.

Tôi chủ trương, tác phẩm tôi viết phải hóm hỉnh, dí dỏm, trào lộng, để người đọc được thoải mái, vui vẻ cùng tôi thực hiện cuộc du ngoạn qua từng trang sách. Bút pháp trào lộng đã thật sự hiệu quả và thành công qua phát biểu của nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận phê bình văn học. Nhà văn Phạm Thành Hưng cho rằng “Sự độc đáo, khác biệt của cuốn sách này nằm ở bút pháp hiện thực trào tiếu”, “Cái hiện thực lịch sử ấy lại được kể lại bằng một giọng điệu hài hước tự trào…”.

Đọc “Tôi và làng tôi” bạn cũng dễ nhận ra, kể chuyện ngày xưa nhưng tôi thường liên hệ với những chuyện bây giờ, chuyện ngày nay. Cho nên lắm khi cái cũ và cái mới hòa quện, đan xen với nhau, bổ sung cho nhau, làm cho câu chuyện thêm súc tích, thú vị, chuyện cũ mà không cũ. Điều này được thể hiện rõ nét trong các câu chuyện “Xem phim Bạch Mao Nữ”, “Bụi tre trước nhà và đôi chim chào mào”, “Tôi làm xã viên hợp tác xã nông nghiệp”, “Chợ Tết cầu may”, “Trường làng”, “Trường huyện”, “Trường tỉnh”…

Có thể nói “Tôi” là một nhân vật xuyên suốt tác phẩm này, cho dù đây không phải là một cuốn tiểu thuyết. Tôi là người trong cuộc, Tôi hiểu làng mình đến từng chân tơ kẽ tóc, Tôi thuộc làng mình như lòng bàn tay. Hồi sống ở làng tôi lam lũ thật sự, tôi khổ thật sự, khổ đến mức không còn chỗ cho khổ hơn được nữa. Dẫu vậy, hồi đó tôi vui, tôi sung sướng thật lòng và tôi tin thật lòng, lắm khi tin như điếu đổ, dẫu “có phần bồng bột và nhuốm mầu ảo tưởng”, như nhà thơ Trần Đăng Khoa đã từng nói. Tôi và các bạn cùng thế hệ thời đó là như vậy.

Về cuốn sách này nhà thơ Trần Đăng Khoa đã viết lời giới thiệu rất thú vị, giàu tâm huyết, chí tình chí lí, với tiêu đề “Nhà văn Lê Bá Thự người “gọi hồn” làng”. Anh viết: “Thấp thoáng ở đó không chỉ có làng Nguyệt Lãng của Lê Bá Thự, mà có cả làng quê của tôi, làng Điền Trì của khu vực Bắc bộ, hay nhiều làng quê khác nữa. Tôi đã thấy, làng của tôi, làng của các bạn bè tôi và nhiều làng quê Bắc bộ nữa đã hiện về trong cuốn sách này. Tôi đánh giá rất cao cuốn sách là vì như vậy. Nó bảo tồn, nó gìn giữ một di sản văn hóa mà bây giờ đang mất đi, đang cứ lặng lẽ tan biến đi, có cách nào giữ được nó không? Phải nhờ vào văn học thôi, và không phải cuốn sách văn học nào cũng làm được điều đó. Lê Bá Thự làm được điều đó một cách rất trọn vẹn”.

Thời kỳ tôi ở làng là thời kỳ tôi sống lam lũ, hồn nhiên, “tự nhiên” và rất “làng”. Sau này, mỗi lần về thăm quê, tôi thường thích kể lại với bố mẹ tôi, với các em tôi và các cháu tôi, những câu chuyện cũ mà tôi là người trong cuộc, những câu chuyện cũ không bao giờ cũ đối với tôi. Bây giờ, lắm lúc ngồi suy ngẫm, tôi thấy nhớ cái ngày xưa ấy, cái ngày xưa không bao giờ quay trở lại nữa. Và tôi thấy mình càng yêu làng, càng đa tạ làng đã cho tuổi thơ tôi đong đầy những “cảm xúc làng”...

Tôi đã suy nghĩ và trăn trở rất nhiều về việc chọn tựa sách. Sau nhiều nghĩ suy, cân nhắc và tham khảo ý kiến của bạn bè, rốt cuộc tôi đã quyết định chọn tựa sách là “Tôi và làng tôi”. Đối với tôi “Tôi và làng tôi” là tựa sách vừa hợp tình cảm vừa hợp lý trí. Tôi ở trong làng và làng ở trong tôi. Tôi là chủ ngữ, tôi là nhân vật chính xuyên suốt tác phẩm, “làng” là đối tượng của “tôi” trong trường hợp này. Tôi chia sẻ phát biểu của nhà lý luận phê bình văn học Nguyễn Minh Tâm khi anh viết: “Tên của tập hồi ức là “Tôi và làng tôi”. Điều đó mặc nhiên hình thành hai mạch tự sự, hai dòng hoài niệm: Tôi - Làng tôi. Nhưng hai mạch hồi ức này không tách rời, mà đan bện, xoắn luyến vào nhau, đúng hơn là nhập vào nhau trong không khí, quang cảnh, lịch sử của làng”.

Cho đến nay đã có trên 40 bài viết, bài bình luận và giới thiệu của các nhà văn, nhà thơ, các nhà lí luận phê bình văn học in trên 40 tờ báo và tạp chí trung ương và địa phương.

Nhà LLPB văn học Phạm Xuân Nguyên cho rằng: “Mẹ đã nhập vào hồn làng Nguyệt Lãng để sống mãi trong lòng cậu bé Thự hôm qua và trở về hôm nay trên trang sách của nhà văn Lê Bá Thự, góp thêm một “nốt trầm xao xuyến” vào bản nhạc pastoral nostalgia (luyến tiếc đồng quê) của những tác phẩm viết về tuổi thơ làng quê hay và xúc động trong văn học Việt Nam hiện đại như “Miền thơ ấu” (Vũ Thư Hiên), “Dòng sông thơ ấu” (Nguyễn Quang Sáng), “Tuổi thơ im lặng” (Duy Khán), “Khúc đồng dao lấm láp” (Kao Sơn)...

toi va lang toi - nxb thanh hóa - 2020.jpg -1
Bìa cuốn “Tôi và làng tôi”.

Nhà thơ Bằng Việt bình luận: “Lê Bá Thự nhớ dai và chiêm nghiệm sâu về nhiều điều trong suốt thời gian ấy của quê nhà, nên anh kể chuyện rất có duyên, đôi khi tưng tửng mà “cười ra nước mắt”, đôi khi giả bộ ngây thơ mà ta lại thấy nhói đau...”.

Tại buổi lễ ra mắt sách, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều phát biểu: “Tôi và làng tôi” cần cho những đứa trẻ để đọc, cần cho những người giảng dạy, cho nhà văn, cho những người nghiên cứu về văn hóa làng. Và đương nhiên cả những người lớn nữa...”

Nhà thơ Hữu Thỉnh viết: ““Tôi và làng tôi” là một tác phẩm văn chương tư liệu, cũng là một dòng văn học chính thống. Cuốn sách đã chứa đựng và chuyển tải được hồn quê Việt Nam đến với bạn đọc. Cuốn sách đã cho ta cảm nhận, chỉ có hồn quê mới lưu giữ và bảo tồn được cốt lõi, giá trị văn hóa Việt một cách bền vững và sâu sắc nhất. Đánh mất hồn quê ta sẽ mất tất cả”.

Là người con của xứ Thanh, tôi vô cùng xúc động và biết ơn quê hương về những tình cảm và sự ưu ái dành cho tôi, cho hồi ức “Tôi và làng tôi”. Các báo Thanh Hóa đều đã đăng bình luận và nhiều trích đoạn rút từ “Tôi và làng tôi”.

Lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa đã quyết định cho in một ngàn cuốn hồi ức “Tôi và làng tôi” để làm tặng phẩm dành cho các đại biểu và khách mời dự Đại hội đại biểu Tỉnh đảng bộ lần thứ XIX (họp năm 2020).

Trong bài phát biểu của mình, tại cuộc gặp mặt giữa lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa và Đoàn nghệ sĩ Nhà báo xứ Thanh tại Hà Nội (28/3/2023), về thăm quê trong khuôn khổ chương trình “Về nguồn”, TS. Đỗ Trọng Hưng, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ Thanh Hóa nói: “Tác phẩm “Tôi và làng tôi” đã để lại cho tôi nhiều cảm xúc từ những câu chuyện kể trong truyện, khiến cho người đọc có cảm giác họ như được gặp lại, được thấy lại những hình ảnh của chính mình thời thơ ấu ở làng”.

Đặc biệt tác phẩm “Tôi và làng tôi” đã được Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa tặng Giải thưởng Lê Thánh Tông, Giải thưởng Văn học Nghệ thuật năm 2020.

Lê Bá Thự

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).