"Tôi có trong ngọn triều lên"

Từ lâu tôi đã có một cảm nhận về thơ của Phan Quốc Bình, một tên tuổi quen thuộc trong các tác giả thơ ở Hà Tĩnh. Cảm nhận không rõ nét lắm, vì tôi chỉ mới đọc một số bài thơ của ông in ở Tạp chí Hồng Lĩnh, nhưng ấn tượng là chúng thường có giọng điệu, cảm xúc điềm đạm và những ý nghĩ trầm buồn trong một cách diễn đạt và ngôn từ mới mẻ, hiện đại.

Sau này ông viết cả tản văn. Với tản văn cũng vậy, ngắn, nhỏ nhẹ, đầy ngẫm ngợi, như là một biến tấu mới của thơ ông.

Tôi có ý định là sẽ đọc hết lượt các tập thơ, tản văn ông đã xuất bản, theo tôi biết gồm 5 tập thơ và 1 tập tản văn: "Tặng phẩm trong vườn" (1989), "Giao cảm" (1990), "Với muôn loài" (1995), "Đợt sóng tìm tôi" (2003), "Bước chân mùa" (?), "Âm thanh thức giấc" (tản văn, 2015, NXB Nghệ An).

Ý định đó đã có khá lâu, chính xác là rất lâu rồi nhưng nó vẫn im lặng ở đó, không được thực hiện nhưng cũng không bị quên lãng. Lâu lâu, tình cờ ý nghĩ cũ hiện ra, nó lại được tiếp tục "xác nhận" như một "món nợ" trong tâm trí. Cho đến lúc này, khi quyết định viết một điều gì đó về những bài thơ của ông, chính thức tôi cũng chỉ mới đọc được trọn vẹn 2 tập thơ là "Giao cảm" (1990) và "Đợt sóng tìm tôi" (2003).

image002.jpg -0
Nhà thơ Phan Quốc Bình cùng vợ và con trai.

Nếu đọc kỹ thơ Phan Quốc Bình sẽ thấy, cũng như vẻ ngoài con người và cuộc sống hết sức lặng lẽ, khiêm nhường, thơ ông không ồn ào, dữ dội hay mãnh liệt trong các sắc thái, cung bậc tâm trạng, thậm chí trong cách diễn đạt đều có sự tiết chế cảm xúc nhất định, nhưng nhiều nội lực bên trong.

Nói theo cách nói bây giờ là ông thuộc típ người hướng nội. Người hướng nội thường được tự do trải nghiệm đời sống tâm linh của mình, tự do hướng đến thế giới mênh mông của cảm xúc về cuộc sống và kỳ diệu thay, nó không phải là sự rời xa hay tách biệt sự sống mà hướng đến sự sống trong một chiều kích khác, một sự "giao cảm" đúng nghĩa, với tất cả sự sâu xa của nó. Và chính sự tiết chế cảm xúc vụn, khiến những tư tưởng sáng rõ hơn về sự sống mới được thoát thai trong mỗi cá thể con người.

Khía cạnh này lý giải vì sao thơ Phan Quốc Bình thường hướng đến diễn đạt một cảm nhận có thực, sống động về sự nhất thể, hòa điệu của bản thể với thế giới bên ngoài, với thiên nhiên "Những ngôi sao vừa tắt trong đời, tôi khổ đau gửi lại bầu trời tỏa sáng/ Mùa màng về trên cánh đồng, trên cơ thể tôi phân phát khúc ca, tôi vui sướng nói điều cần nói/ Ngọn đồi kia ai san bằng, một phần cơ thể tôi bị tổn thương".

Những câu thơ này được đề tựa cho tập thơ "Giao cảm". Đó là diễn giải đầy tính "giác ngộ" về sự sống, một sự sống trong tính toàn vẹn, trong tính bản nguyên, vũ trụ, không tách rời, không đối lập của nó. Và cái tôi bản thể này là một phần tất yếu trong sự sống to lớn đó.

Hướng đến thiên nhiên trong sự hòa hợp tâm trí cảnh sắc là cảm giác bình thường, có ở tất cả mọi người. Nhưng cảm thấy mình trong sự tồn tại của tự nhiên, cánh đồng, đồi núi, dòng sông, cỏ cây, mây trời, tiếng chim hót, buổi sớm mai…, sự sống của cái tôi đồng nhất, tuôn chảy cùng sự sống bên ngoài thì đó lại là vấn đề của tâm thức/thức nhận có tính tâm linh.

Dĩ nhiên, nó chưa hề trở thành một triết lý, một tiếng nói mạnh mẽ trong thơ ông nhưng nó đã làm nên giọng điệu riêng, thôi thúc ông tìm đến tiếng nói của thơ ca và cảm thấy niềm hạnh phúc thiêng liêng ở đó: "Người bạn đường duy nhất của tôi ơi/ Em đến bất ngờ khi tôi khổ đau, vui sướng/ Và dũng cảm trong niềm suy tưởng/ Thơ đến cùng tôi ý chí bền sâu/ Tôi sống trong niềm vui thiêng liêng ấy/ Nỗi ưu tư xa lánh thói đời". Cảm giác hạnh phúc đó là có thật, sống động, tựa như một ân huệ, hoàn toàn không phải là một theo đuổi. 

Tôi nghĩ rằng mình đã nhận ra, qua thơ ông, bên trong cuộc sống rất bình thường, vẻ ngoài của con người rất lặng lẽ, có phần buồn bã ấy có một đời sống tâm linh sống động, có niềm hạnh phúc, nỗi hân hoan to lớn: "Mẹ ơi con làm sao khác được/ khi con không thuộc về mình, con là của đất đai/ hình như trong màu cỏ hoa đều có sức tôi thể hiện/ tình yêu bão bùng suốt năm tháng trong tôi" (Theo câu hát dân ca).

Đó là niềm hạnh phúc của sự hòa vào/ở trong dòng chảy với sự sống của vạn vật, đất đai, hoa cỏ. Một sự thức nhận đầy hân hoan, mới mẻ và cả đầy bất ngờ nữa với chính tôi/tác giả. Đúng như nhận xét của nhà thơ Chử Văn Long, "anh đã tìm ra cái lý đẹp đẽ nhất của mỗi con người được sinh ra trên mặt đất này" - chính là những điều này: "Sẽ nói nhiều với cây cỏ, đất đai/ tôi nhận thấy lòng mình không bao giờ lặng sóng" (Phản xạ những dòng thơ - Giao cảm).

Quả vậy, tiếng nói khá nổi trội, chủ đạo trong thơ Phan Quốc Bình là "ngôn ngữ của sự hòa hợp": "mùa màng trên cánh đồng"- "trên cơ thể tôi"; "ngọn đồi kia ai san phẳng"- "một phần cơ thể tôi bị tổn thương", "con không thuộc về mình" - "con thuộc về đất đai", "tôi sẽ nói nhiều với cây cỏ, đất đai", "tôi tiếp đón mọi âm thanh dồn nén", "tôi nói bằng ngôn ngữ của sự hòa hợp ấy", "trung thành với thiên nhiên", "dường như khắp nơi trên trái đất này tôi đều có mặt"… Khi cái tôi, bản ngã biến mất thì con người trở thành một phần của thiên nhiên, của sự sống trong ý nghĩa toàn thể và tự nhiên, nguyên thủy nhất của nó.

Điều khiến tác giả cảm thấy thơ như một người bạn đường tin cậy, niềm hạnh phúc thiêng liêng là vì thơ đối với ông không phải là đích đến mà là một cách chia sẻ, là niềm vui, hạnh phúc bên trong cất tiếng, nở hoa, chiếu ánh sáng: "Những bài thơ tôi viết/ Đã nhiều năm trong bản thảo giam cầm/ Chúng vốn là con đẻ của thiên nhiên/ Tự do sao trời, tự do cánh chim/… tôi thả vào vũ trụ những câu thơ/ Thả vào cánh chim, thả ánh nắng".

image004.jpg -1
Các tập thơ đã xuất bản của nhà thơ Phan Quốc Bình.

Tinh thần chung của thơ Phan Quốc Bình là hướng đến diễn đạt nhận thức mang tính tâm linh sâu sắc, hướng đến tính chất Thiền, tính "vô ngã" trong ý nghĩa là sự hòa hợp tuyệt đối của mọi sự sống, của những khoảnh khắc hiện tại, không bị cản trở bởi một vướng bận nào của tâm trí: "…Không còn dư âm của nỗi khổ đau/ Chỉ nghe trên cao/ Lời ru của bầu trời/ Chỉ nghe trong đất/ Xôn xao niềm vui/ Ơi mùa xuân có gì thôi thúc/ Thời gian như mới bắt đầu/ Hình như tôi sinh ra lần thứ nhất" (Ngọt ngào giêng hai).

Đó là những câu thơ gợi nhiều xúc động. Sự vướng bận của tâm trí sẽ làm mờ đi những trải nghiệm tuyệt diệu về cuộc sống này, trong việc thấy mình trở nên trống rỗng, tự do, chỉ còn là ánh nắng, là tiếng chim, là bầu trời, là sự sống xôn xao, mới mẻ như vừa được sinh ra lần đầu. "Không còn dư âm của nỗi khổ đau", "không còn nhớ tới những ngày xô đẩy", tâm trí được thả lỏng thống nhất với thế giới bên ngoài. Mỗi câu thơ mang thông điệp về một diễn giải, một phát hiện về niềm hạnh phúc được thuộc về bản hòa ca của cuộc sống, thiên nhiên.

Rất nhiều bài thơ, câu thơ trong các tập thơ của ông diễn đạt niềm hạnh phúc, hân hoan trong việc tìm thấy mình trong sự sống của thiên nhiên, tìm/nhận ra được những "tặng phẩm trong khu vườn tự nhiên" rộng lớn; nhận ra ý nghĩa sâu xa của cuộc sống lại chính việc sống và cảm nhận hết mình với những điều bình thường, nhỏ bé.

Như là một tiếng gà vút lên trong buổi sáng từ bờ sông xa đột nhiên rơi vào tâm trí, đánh thức thế giới sống động của nó: "…Một mình ven đê và tiếng gà bên bờ sông xa/ Tiếng gà cất lên từ bờ tre nơi mẹ cha ta ở đó/ Cây rơm ngày mùa tỏa hương/ Tiếng gà bàng bạc nỗi nhớ thương ai…" (Tiếng gà ơi - Đợt sóng tìm tôi).

Thơ Phan Quốc Bình vì thế trở nên sống động, đầy những chuyển dịch, trầm tĩnh, từ tốn nhưng cũng đầy phóng khoáng. "Tinh thần nội tâm" này đã đưa đến vẻ mới, lạ, hiện đại cho thơ ông, mặc dù ông không hề có ý định dùng kỹ thuật cách tân hay trau chuốt gì về ngôn từ.

Thơ Phan Quốc Bình có vẻ hiện đại của sự chi phối nội tâm, và bởi có một tiếng nói nhất quán, không bị tản mạn bởi những cảm xúc "vụn". Nói cách khác là thơ ông có tứ lớn. Tiêu đề các tập thơ, văn của ông, như đã điểm ở đầu bài viết, cùng thể hiện, hướng tới chủ đề lớn, chủ âm cơ bản - giao cảm, với muôn loài, đợt sóng tìm tôi, bước chân mùa, âm thanh thức giấc. Phần lớn bài thơ là những chuyển động châu tuần xung quanh tứ lớn đó. Tập thơ không đơn giản chỉ là tập hợp những bài thơ. 

Đọc thơ Phan Quốc Bình, tôi hiểu hơn nhận xét của nhà thơ Thanh Thảo, rằng thơ Phan Quốc Bình "tràn đầy một sự tự tin nội tại, một sự tự tin mà không phải ai cũng có được". Và tôi nghĩ, với người làm thơ, thành công là ở một phần - người đọc đã nhớ và ghi nhận một giọng điệu, tiếng nói nội tâm riêng, không bị nhạt nhòa trong muôn giọng điệu.

Nguyễn Thị Nguyệt

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).