Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).

Có một thực tế, trong nhiều cuốn sách tiểu luận - phê bình văn học, ta luôn bắt gặp tình trạng tác giả gom nhặt các bài viết - tiểu luận làm thành một tập. Dẫu mang một cái tên chung, thậm chí cũng chia thành chương - phần, nhưng sự rời rạc của thể loại, chủ đề đã phần nào hé lộ khía cạnh cơ học trong lao động chữ nghĩa của nhà phê bình.

Sâu xa hơn, sự cơ học nói lên những đứt quãng, những viết lách thời vụ, ít chuyên tâm một cách lâu dài của người viết vào một thể loại, một vấn đề cụ thể của đời sống văn chương. Thành ra, xét cho nghiêm ngặt, ở ta có nhiều người làm phê bình văn học, nhưng lại ít chuyên gia.

Tơ duyên trong chữ -0
PGS.TS Nhà lý luận phê bình Hoàng Kim Ngọc.

Quan sát ấy của tôi dừng lại, nơi những ý nghĩ được cưu mang bởi hành trình viết của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc. Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của chị là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).

Như thế, duyên chính là cội nguồn của hạnh ngộ, để mỗi tiểu luận là một câu chuyện về cuộc đời, nghệ thuật trong ý nghĩa tốt đẹp mà nhà văn, nhà phê bình đã gửi giữa nhân gian. Và, trở lại với ý nghĩ ban đầu, từ những mảnh sợi lấp lánh màu sắc tôn giáo trong “Đi tìm dấu vân chữ” (2022) qua tuyển tập “Dấu ấn Phật giáo trong thơ đương đại Việt Nam” (2025) sang "Duyên khởi đến cõi văn", Hoàng Kim Ngọc từng bước định vị mình như một chuyên gia trong nghiên cứu - phê bình văn học dưới nhãn quan tôn giáo (Phật giáo). Điều đó cần được xem là một nỗ lực có trọng điểm, có chiến lược, nhưng sau cùng lại vẫn có thể quy về mối lương duyên mà chị nhận ra trong đời sống, đọc và viết của mình.

"Duyên khởi đến cõi văn" chỉ gồm 17 tiểu luận, nhưng là những tiểu luận được viết công phu sau quá trình đọc, khảo sát, phân tích, đánh giá và rút ra được những kết luận đích đáng về tác phẩm, tác giả, hiện tượng văn học. Đừng nghĩ cứ biết chữ là đọc được, đọc ra vấn đề - cái sâu xa ẩn tàng sau hệ thống ký hiệu, mã hóa trong hình tượng, cấu trúc nghệ thuật. Đây đó, người ta thốt lên tình trạng nhà phê bình đọc không vỡ chữ, hẳn cũng xuất phát từ việc biết đọc mà không đọc được như vậy.

Ở phương diện này, Hoàng Kim Ngọc cho thấy năng lực đọc ở cấp độ tinh hoa (nhà phê bình, nhà văn vẫn được xem là người đọc tinh hoa), khi trong các tác phẩm, hiện tượng mà tác giả khảo sát, việc đọc được triển khai bài bản, lớp lang, với những thao tác từ cơ bản đến chuyên sâu, tập trung vào các phương diện chính yếu làm nên giá trị của tác phẩm.

Chẳng hạn, khi đọc tiểu thuyết "Hà Nội nhiều mây có lúc có mưa ngâu" của Hồ Anh Thái, tác giả tập trung vào cấu trúc để phát hiện ra cơ chế vận hành các tầng nghĩa, các chiều cạnh và tâm điểm, các mối quan hệ kết lưới từ điểm nhìn đa bội và giọng điệu linh hoạt xác lập mô hình tự sự kim cương khá vững chắc. Có thể nói, phải đọc kỹ, rất kỹ, thậm chí phải vạch ra sơ đồ, cấu trúc, tuyến mạch..., nhà phê bình mới có thể khái quát được những nét sắc rõ như thế (Sự hấp dẫn của ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái).

Tương tự, với tập thơ "Mắt mắt khuya từng đàn" của Trần Hùng, Hoàng Kim Ngọc cũng cho thấy những mơ hồ huyền mị của thi ca chữ nghĩa không làm khó được mình. Bài viết "Ngôn ngữ nghệ thuật thơ Trần Hùng" là một nghiên cứu sâu về ngôn ngữ thơ, của một người am tường ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ thơ nói riêng. Nhưng, điều quan trọng là Hoàng Kim Ngọc có phương pháp, biết cách để giao tiếp cùng những thi phẩm mà sự kín đáo của nó đôi khi làm nản chí những kẻ cạn lòng.

Và, một điều quan trọng khác, luôn xe quyện, thấm thía trong hành trình đọc - nghĩ - viết của Hoàng Kim Ngọc chính là mĩ cảm thơ ca khá tinh nhạy. Phải nói rằng, tập "Mắt mắt khuya từng đàn" không dễ đọc, bởi hệ thống ngôn ngữ, thi tứ, thi ảnh, nhịp điệu có phần khác lạ. Điều đó dễ gây hoang mang và làm người đọc lạc bước, thậm chí là ngăn trở người đọc thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của Trần Hùng.

Thế nhưng, với Hoàng Kim Ngọc, chị bình tĩnh để nhận ra một nhan đề đa nghĩa với độ loang nhòe, cộng hưởng của các trường ngữ nghĩa, sắc thái chỉ với 5 chữ trong tên tập thơ (Mắt mắt khuya từng đàn). Từ cánh cửa ấy, bước vào thi giới Trần Hùng, những kết hợp thanh âm, ngôn ngữ thơ giàu tính nhạc, mang màu sắc liêu trai, siêu thực, những thủ pháp tạo nghĩa độc đáo... đã làm nên vẻ đẹp thi tính của tập thơ.

Chưa phải là tất cả, nhưng những tín hiệu mà Hoàng Kim Ngọc vạch ra, giúp người đọc có được những chỉ dấu quan trọng cho hành trình trải nghiệm thi ca của mình. Đó cũng chính là chức năng nổi bật của phê bình trong cấu trúc văn học.

Tơ duyên trong chữ -1
Tác phẩm mới của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc.

Như đã nói ở trên, duyên là mạch nguồn xuyên suốt 17 tiểu luận của Hoàng Kim Ngọc. Dĩ nhiên, tôi không làm lại công việc mà tác giả đã làm là đi khảo sát kỹ, mô tả kỹ về tín ngưỡng, triết lý Phật giáo, về các trạng thái thiền tĩnh, thiền động hay cảm thức tâm linh phong phú, tinh tế, phức tạp... hướng đến một đời sống an lạc của con người trong các tác phẩm, hiện tượng văn học.

Tuy nhiên, từ sự đậm đặc của tinh thần hiện pháp lạc trú trong thơ Việt Nam đương đại đến dấu ấn Phật giáo trong tiểu thuyết “Câu chuyện của Nàng Thê”, Tín ngưỡng tâm linh trong truyện ngắn Y Ban, tinh thần thiền và một số biểu tượng trong trường ca “Cúc”, hạnh phúc và quan niệm hạnh phúc trong “Than đỏ dưới tàn tro”... hay thưa thoáng trong các tác phẩm của Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Quang Thiều, Trần Gia Thái, Mai Văn Phấn... cho thấy nguồn dưỡng chất mang tinh thần Phật giáo, cái nhìn Phật giáo đã quán chiếu, bao trùm không gian đọc - viết của Hoàng Kim Ngọc.

Xác định được đối tượng (những tác giả - tác phẩm đích đáng), nhận diện được vấn đề, khảo sát, mô tả, phân tích các dữ kiện để chưng cất thành các kết luận vừa có giá trị khoa học, vừa có giá trị thẩm mĩ, đó là thành công nổi bật của "Duyên khởi đến cõi văn".

Ví như, khi xem xét "Dấu ấn Phật giáo trong tiểu thuyếtCâu chuyện của Nàng Thê”” (tiểu thuyết của Võ Thị Xuân Hà), Hoàng Kim Ngọc đã đi đến nhận định: “Cuốn tiểu thuyết này ít đối thoại mà nhiều tưởng tượng, điểm nhìn của người kể chuyện trùng khít với điểm nhìn của nhân vật chính xưng tôi. Đây là ngôi kể khiến nhân vật có thể đi sâu vào từng ngõ ngách của tâm hồn mình để giãi bày, đào xới nội tâm một cách chân thực nhất và rất phù hợp với nội dung của truyện là sự truy tìm bản thể của chính mình [...] Trong đời sống hiện đại, người có ý định truy tìm bản thể của mình tức là đã quan tâm đến đời sống tinh thần hơn những vấn đề vật chất tầm thường. Và, như vậy, nhân vật cũng như nhà văn đã thực sự đứng ở một cảnh giới khác, một cảnh giới cao mà người nào có duyên với đạo Phật mới được thụ hưởng” (tr. 68-69).

Trong tiểu luận "Theo dòng “Nhật ký người xem đồng hồcủa Nguyễn Quang Thiều", tác giả cũng có những phát hiện khá mới mẻ: “Ông (Nguyễn Quang Thiều - NTT) có khả năng thơ hóa những sự việc, sự kiện, đồ vật bình thường nhất và có khả năng làm mới những cái quen thuộc nhất. Gốc rễ của những bài thơ duy tình mang căn tính Việt của ông đã chạm được vào mĩ cảm của người đọc bằng lối diễn đạt hiện đại, chỉ dẫn liên tưởng đa nghĩa mang màu sắc triết lý” (tr.112).

Cũng như nhiều nhận định về các tác giả - tác phẩm khác, Hoàng Kim Ngọc luôn lần ra mối tơ xe kết giữa nhà văn, cõi văn và cuộc đời, dưới cảm quan Phật giáo. Sợi tơ ấy còn nối kết đến nhà phê bình, hình thành mối duyên chữ nghĩa, nghệ thuật mà rộng hơn là cuộc đời (trùng trùng luân hồi/ trùng trùng duyên khởi), của những con người tìm thấy nhau trong ánh sáng của niềm hạnh ngộ.

"Duyên khởi đến cõi văn" đậm đà chữ duyên là thế, nhưng không phải lúc nào sợi tơ cũng mềm mại, bền chặt. Cõi văn vốn nhiều thanh sắc, dễ làm say lòng người. Nói văn chương là bùa mê cũng đâu quá lời, khi nhà phê bình đắm chìm với các tác phẩm, mải mê tận hưởng hương sắc của đức tin, triết lý, mĩ cảm... thông qua các thi ảnh, thi tứ, hình tượng, ngôn ngữ, cấu trúc nghệ thuật... mà nhãng đi phần việc của mình.

Tôi muốn nói rằng, đôi bài tiểu luận, thao tác mô tả - như là kết quả trải nghiệm nghệ thuật nổi bật hơn là thao tác lý giải và đánh giá. Phần mô tả đã trả lời đích đáng cho câu hỏi: như thế nào? Dẫu vậy, người đọc sẽ muốn đi xa hơn khi chờ đợi nhà phê bình trả lời câu hỏi: Tại sao? (lý giải)/ Có ý nghĩa gì? (đánh giá). Có lẽ, đó vẫn là những mối lương duyên ở phía trước trên hành trình đọc và viết của/từ Hoàng Kim Ngọc.

Nguyễn Thanh Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân đã dành thời gian hơn một năm để biên soạn cuốn sách chuyên khảo công phu có tên gọi “Các nhà văn nữ đoạt giải Nobel sống và viết”. Tác phẩm có dung lượng 600 trang với nhiều thông tin bổ ích này vừa được Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành.