Tinh tú trời cao thành vương miện sáng...

Không biết tự bao giờ, con người đã học được cách trò chuyện với bầu trời. Không dừng lại ở những quan sát về chuyển dịch tối - sáng, ngày - đêm, người ta có thể tâm sự cùng nắng mưa, nhật nguyệt hay mây gió, thậm chí là mỗi cánh chim bay qua không trung.

Con người cũng học được cách xem thiên văn để đưa ra nhiều dự đoán chính xác về số phận mỗi cá nhân, quốc gia hay thời đại. Và trong vô vàn những vẻ đẹp của bầu trời rộng lớn và cao xanh ấy, nhỏ bé nhất nhưng cũng chiếm số lượng đông đảo nhất về mặt cá thể, đó chính là những vì sao...

1. Trong tình yêu, người nghệ sĩ thường gắn câu chuyện của mình với những vì sao. Khi hạnh phúc, sao có thể là chứng nhân cho tình yêu, tô điểm thêm cho tình cảm của con người: “Tinh tú trời cao thành vương miện sáng/ Khai lễ đăng quang vũ trụ chong đèn/ Hoàng hậu về cao sang quyền quý/ Đẹp nụ cười quân vương vừa ý/ Và lâu đài mang tên Tình Ái/ Đón hai đứa chúng ta mà thôi” (Lâu đài tình ái - Nhạc và lời: Trần Thiện Thanh). 

Những ánh sao có thể làm tình yêu thêm lãng mạn, và cô gái dường như đẹp hơn trong mắt chàng trai: “Đêm nay ai đưa em về/ Đường khuya sao trời lấp lánh/ Đêm nay ai đưa em về/ Mắt em sao chiếu long lanh” (Ai đưa em về - Nhạc và lời: Nguyễn Ánh 9). 

Đến khi xa cách, chàng trai cũng có thể nhìn trăng sao mà thề hẹn, mà khẳng định tình cảm thủy chung hay nỗi nhớ cháy bỏng của mình: “Anh không ngủ hẳn vì em đang nhớ/ Một trời sao rực cháy giữa đôi ta/ Em nhắm mắt cho lòng anh lặng gió/ Cho sao trời yên rụng một đêm hoa” (Hai bài tứ tuyệt - Chế Lan Viên), “Trời còn có bữa sao quên mọc/ Anh chẳng đêm nào chẳng nhớ em” (Đêm sao sáng - Nguyễn Bính). 

Cũng có khi nhìn sao mà đợi chờ, lo âu và dự cảm về tình yêu tuột mất: “Tôi đi tìm mũ Thần Nông/ Thấy con vịt trắng giữa sông Ngân Hà/ Dài ra, vệt sáng dài ra/ Hồn em bay đấy hay là hồn tôi?/ Lại vì sao nữa đổi ngôi/ Không mà, sao ấy vào chơi sao này/ Vội vàng, tôi ngửa bàn tay/ Phải hồn em xuống nơi này cùng tôi?/ Bao giờ sao hết đổi ngôi/ Hồn em xa cách hồn tôi nghìn trùng” (Trông sao - Nguyễn Bính). 

Những vì sao có khi xuyên suốt một câu chuyện tình, từ lúc đắm say hạnh phúc cho đến lúc cách xa ly biệt, dở dang tan vỡ: “Bầu trời nhiều sao sáng đêm nay. Nhiều như những gì mình muốn có (...) Bầu trời nhiều sao sáng đêm nay. Nhiều như những gì mình đã có (...) Bầu trời nhiều sao sáng đêm nay. Nhiều như những gì mình đã mất (...) Bầu trời nhiều sao sáng đêm nay. Nhiều như những kỷ niệm qua tay” (Người tình trăm năm - Nhạc và lời: Đức Huy). 

Lúc đắm say bên nhau, người ta có thể cùng nhìn sao mà thề non hẹn biển: “Sao anh và sao em vẫn luôn gần nhau. Dù mây đen và bão tố, ta luôn kề bên nhau. Rồi bão tố cũng qua đi. Và mây kia cũng tan đi. Tình yêu đôi ta sáng như sao khuya” (Sao anh và sao em - Nhạc và lời: Hồ Trọng Tuấn). 

Và rồi lúc tiễn biệt chia ly, cũng không thiếu được những vì sao: “Từng chiều xuống anh vẫn ngóng chờ tình yêu sao đã phôi pha. Phút cuối tiễn đưa cánh sao lưa thưa" (Tình nồng - Tô Chấn Phong), “Người về, một mùa thu gió heo may. Về đâu, có nhớ chăng những vì sao long lanh. Đưa tiễn người một đêm không trăng. Nói sao nên lời, lòng buồn như chiều rơi. Như trong đêm khuya, những bước chân qua thềm gợi niềm thương nhớ vô vàn” (Hai vì sao lạc - Nhạc và lời: Anh Việt Thu).

2. Trong văn chương cổ điển, có khi người ta nhắc đến những vì sao mang tên thật cụ thể. Từ thế kỷ 13, Phạm Ngũ Lão trong bài “Thuật hoài” đã so sánh khí thế của quân sĩ Đại Việt ngất trời như muốn nuốt sao Ngưu: “Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu/ Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu” (Múa giáo non sông trải mấy thu/ Ba quân hùng khí át sao Ngưu). 

Sau hai thế kỷ, vua Lê Thánh Tông vào năm 1464 đã minh oan cho Nguyễn Trãi, truy tặng tước hiệu Tán trù bá, bỏ lệnh truy sát của triều đình với gia quyến của ông và ra lệnh bổ dụng con cháu ông làm quan. Bài thơ “Quân minh thần lương” của Lê Thánh Tông trong tập “Quỳnh uyển cửu ca” đã dành một câu viết về Nguyễn Trãi, ví tấm lòng của ông như sao Khuê: “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo”. 

Trong đời sống ngôn ngữ và văn hóa của người Việt, nhiều người vẫn quen thuộc với thành ngữ “sao hôm sao mai” chỉ sự xa cách giữa hai con người do cảnh ngộ khác nhau gây nên. Thực chất thì theo khoa học, sao hôm và sao mai chỉ là một vì sao duy nhất - sao Kim. Bởi sao Kim và Trái đất đều quay xung quanh mặt trời nhưng do vòng quay của sao Kim nhỏ hơn Trái đất (gần mặt trời hơn), nên khi mặt trời chưa mọc, ta thấy nó ở bên Đông, đến chiều khi mặt trời chưa lặn, ta lại thấy nó ở đằng Tây. 

Nhạc sĩ Vĩnh Cát trong ca khúc nổi tiếng “Ngôi sao Hà Nội” đã mượn cách hiểu của dân gian về sao hôm sao mai để diễn tả một khát vọng tình yêu thủy chung son sắt, luôn khát khao bên nhau: “Anh không làm sao Hôm/ Em chẳng làm sao Mai/ Phải tìm nhau mãi mãi/ Em không làm sao Mai/ Anh chẳng làm sao Hôm/ Chỉ làm ngôi sao không tên/ Để được gần nhau suốt đời/ Để được gần nhau suốt đời/ Để được gần nhau suốt đời”.

Ngoài những biểu tượng và ví von những vì sao gắn với tình yêu đôi lứa, trong văn chương thi ca người Việt, sao còn có thể  gắn với nhiều tình cảm khác, mang những ý nghĩa biểu tượng phong phú khác. 

Nhà thơ Trần Quốc Minh đã mượn hình ảnh những ngôi sao ban đêm để ngợi ca tình mẫu tử, bày tỏ lòng biết ơn của con cái với mẹ hiền: “Những ngôi sao thức ngoài kia/ Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con” (Mẹ). 

Sao còn có thể trở thành biểu tượng trên quốc kỳ của nhiều dân tộc. Lá cờ đỏ sao vàng của người Việt đã đi vào biết bao tác phẩm thi ca, trong đó phải kể đến bài thơ “Thụy bất trước” (Không ngủ được) của Hồ Chủ tịch trong tập Nhật ký trong tù: “Nhất canh... nhị canh... hựu tam canh/ Triển chuyển, bồi hồi, thụy bất thành/ Tứ, ngũ canh thì tài hợp nhãn/ Mộng hồn hoàn nhiễu ngũ tam tinh” (Một canh... hai canh... lại ba canh/ Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành/ Canh bốn canh năm vừa chợp mắt/ Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh).

Thời kỳ Thơ Mới, những vì sao còn có thể diễn tả tâm trạng cô đơn lẻ loi mất phương hướng, mất niềm tin của con người: “Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh/ Một vì sao trơ trọi cuối trời xa/ Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh/ Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo” (Những sợi tơ lòng - Chế Lan Viên). “Đêm tàn chẳng có chiêm bao/ Đêm tàn có mấy chòm sao cũng tàn” (Một con sông lạnh - Nguyễn Bính). 

Trong thơ Đinh Hùng, sao còn gắn với những niềm kinh dị, mê ảo, là cuộc kiếm tìm mải miết của người thi sĩ với cái đẹp hay một thế giới tiên nguyên nào đó: “Khi miếu đường kia phá bỏ rồi/ Ta đi tìm những hướng sao rơi/ Lạc loài theo dấu chân cầm thú/ Từng vệt dương sa mọc khắp người” (Những hướng sao rơi ). 

Và Hàn Mặc Tử, thi sĩ của đau thương và bất hạnh, máu cuồng và hồn điên, cũng được người bạn của mình, Chế Lan Viên, ví với một vì sao: “Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình”.

Trong thi ca hiện đại sau này, khi diễn tả về nỗi cô đơn, người ta vẫn dùng hình ảnh vì sao: “Hiểu tôi là ngọn núi cao/ Thương tôi có một vì sao cuối trời” (Đồng Đức Bốn), “Em hãy vì mọi người, từng lời hát, từng nụ cười. Riêng em có buồn, thì ngồi yên cho tôi ngắm xem. Vì sao trong đôi mắt em, có những ngôi sao cô đơn (...) Tôi mong suốt đời, bình yên cho tôi ngắm xem. Vì sao trong đôi mắt em, đã vắng những ngôi sao cô đơn” (Ngôi sao cô đơn - Nhạc và lời: Thanh Tùng)

Những ngôi sao cũng có khi gắn với những tình cảm thật trong sáng vui tươi của trẻ thơ, như trong bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Văn Chung, nhưng câu chuyện về ca khúc ấy lại lấy đi nước mắt của bao thính giả. 

Năm 1947, con gái của nhạc sĩ Văn Chung bị chết trong một trận ném bom của địch. Nhớ thương con gái mình, ông đã viết nên ca khúc “Đếm sao” để tặng cho con và rồi biết bao thế hệ thiếu nhi Việt Nam đã yêu mến và hát ca khúc này: “Một ông sao sáng hai ông sáng sao. Ba ông sao sáng, sáng chiếu muôn ánh vàng. Bốn ông sáng sao kìa năm ông sao sáng, kìa sáu ông sáng sao, trên trời cao...”.

3. Không chỉ đi vào trong thi ca của người Việt, nhiều tình khúc danh tiếng của người phương Tây cũng có những vì sao, nhờ ánh sao để diễn tả tình yêu bất diệt. 

Ca khúc “Love story” của nhạc sĩ Francis Lai đã khép lại bằng những lời ca: “I know Ill need her till the stars all burn away. And she will be there” (Tôi biết tôi mãi cần nàng cho dù tất cả những vì sao sáng ngời kia vụt tắt. Và nàng vẫn mãi nơi đây bên tôi.) 

Và bản ballad “And I love her” của ban nhạc tứ quái huyền thoại The Beatles cũng kết thúc bằng những vì sao: “Bright are the stars that shine. Dark is the sky. I know this love of mine will never die and I love her” (Như những vì sao đang tỏa sáng lấp lánh giữa trời đêm, tôi biết rằng tình yêu của tôi không bao giờ chết. Và tôi yêu nàng).

Cùng với trần gian và tình yêu muôn thuở, những vì sao sẽ mãi còn làm bạn với con người cho tới ngày tận thế...

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).