Tình khuy

Định nghĩa về khuy, bách khoa toàn thư mở Wikipedia viết: "Khuy (còn gọi là cúc, nút) là một sáng chế trong trang phục của con người để gài quần áo, giữ hai thành phần đính lại với nhau ở một vị trí nhất định". Về mặt lịch sử, khuy trong đời sống sinh hoạt và trang phục của người Việt dường như cũng có một hành trình riêng của nó...

Con người, trong tiến trình văn minh của mình, ngoài việc chăm lo cho sự phát triển đời sống, thì đồng thời cũng hết sức chú ý đến việc làm đẹp. Nói đến sự làm đẹp của con người thật muôn hình vạn trạng. Từ trang phục, trang sức cho tới phương tiện đi lại, cư trú... Những phương tiện phục vụ con người, một mặt vừa có giá trị làm đẹp, mặt khác vừa có giá trị bảo vệ.

Xét từ góc độ cấu tạo, phương tiện làm đẹp có thể mang kích cỡ rất to lớn nhưng lại cũng có thể hết sức nhỏ bé. Một trong những vật nhỏ bé như thế nhưng không bao giờ có thể thiếu được trên mỗi bộ trang phục của con người, đó là chiếc khuy.

1.Định nghĩa về khuy, bách khoa toàn thư mở Wikipedia viết: "Khuy (còn gọi là cúc, nút) là một sáng chế trong trang phục của con người để gài quần áo, giữ hai thành phần đính lại với nhau ở một vị trí nhất định". Về mặt lịch sử, khuy trong đời sống sinh hoạt và trang phục của người Việt dường như cũng có một hành trình riêng của nó.

Thực ra người Việt truyền thống ít dùng khuy mà chủ yếu dùng dây buộc, điển hình nhất có thể kể tới áo yếm và áo tứ thân của phụ nữ. Khuy chắc chắn xuất hiện sau thời kỳ dùng dây buộc cho trang phục, và khởi đầu ắt hẳn là loại khuy cài. Thế nên khi người thiếu nữ từ quê ra tỉnh rồi trở về làng trong bài thơ của Nguyễn Bính, bộ trang phục truyền thống với áo tứ thân và quần nái đen đã được thay thế bằng áo tân thời với quần lĩnh khăn nhung.

Nét đẹp trong trang phục áo bà ba với hàng khuy duyên dáng của người phụ nữ miền Nam.
Nét đẹp trong trang phục áo bà ba với hàng khuy duyên dáng của người phụ nữ miền Nam.

Và sự thay đổi đến ngay từ chiếc khuy, từ khuy cài chuyển sang khuy bấm: "Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng/ Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi" ("Chân quê" - Nguyễn Bính). Sau này, ở Việt Nam cũng như trên thế giới, cùng với sự phát triển của đời sống văn minh và kỹ thuật, người ta thiết kế ra nhiều loại "khuy" tiên tiến hơn nữa với các hình thức như nam châm, khóa kéo (phéc mơ tuya) và dây velcro (kỹ sư người Thụy Sĩ George de Mestral tìm ra năm 1948). Đối với đa số các dân tộc trên thế giới, vật liệu để làm khuy cài có thể được lựa chọn trong tiến trình lịch sử là gỗ, sừng, vỏ ốc và kim loại. Ngày nay, đại đa số các khuy cài áo được làm bằng chất liệu plastic (nhựa).

Vị trí của khuy cài cũng là một điều hết sức thú vị. Người ta có thể chọn trục dọc phía trước cơ thể để làm hàng khuy và nhiều người cho đây là cách thiết kế mang tính truyền thống nhất. Nhưng thực ra đối với người Việt, vị trí khuy cài truyền thống lại là ở… mạng sườn. Điều này có thể thấy rõ qua chiếc áo the trong bộ áo the khăn xếp của người đàn ông.

Một vị trí nữa để cài khuy là phần ngực gần vai bên phải. Sau này, các nhà thiết kế trang phục còn làm khuy cả theo trục dọc phía sau lưng hoặc phổ biến hơn là một đường khóa kéo. Một điều vô cùng thú vị nữa là đối với các trang phục có hàng khuy đằng trước, hàng khuy áo của nam giới được đơm bên tà áo phải còn hàng khuy áo của nữ giới lại được đơm bên tà áo trái. Tại sao lại như vậy?

Người ta giải thích rằng, về mặt lịch sử, đối với người đàn ông, do động tác đưa vũ khí săn bắn thường là từ trái sang phải nên các khuy áo cũng được thiết kế để phù hợp với hướng chuyển động của cơ thể. Đàn ông thường cầm vũ khí bằng tay phải nên sẽ thuận tiện hơn khi để tay trái làm nhiệm vụ cởi khuy áo khi cần thiết.

Ngược lại, đối với phụ nữ, khuy áo được thiết kế bên trái sẽ giúp họ dễ dàng tháo khuy bằng tay phải để cho con bú. Bên cạnh đó, ta cũng thường thấy phụ nữ hay ẵm con bên tay trái để tay phải được rảnh rang làm những công việc khác.

Thời xưa, người phụ nữ quý tộc ở phương Tây khi mặc những bộ đồ cầu kỳ phức tạp thường phải có người hầu phòng giúp đỡ để cài khuy. Chính là việc thiết kế những hàng cúc bên trái sẽ giúp người hầu phòng (thường thuận tay phải) cài khuy một cách dễ dàng hơn. Dần dần điều này trở thành một mốt thời trang, được các phụ nữ khác làm theo và thậm chí nó còn là dấu hiệu ngầm mách bảo rằng, gia đình cô gái/ người phụ nữ ấy rất giàu có.

2. Trong thi ca, chiếc khuy tuy nhỏ nhoi nhưng lại có thể biểu hiện những tình cảm nồng ấm, thiết tha, sâu nặng. Người phụ nữ trong bài thơ "Trời trở rét" của Xuân Quỳnh đã nói với chồng những lời thật trìu mến, dịu dàng khi anh bước chân ra cửa: "Sao không cài khuy áo lại anh/ Trời lạnh đấy hôm nay trời trở rét/Gió nhiều quá phòng trở nên chật hẹp/ Bụi mù ngoài đường phố ít người qua/ Em từ nhà ra tới ngã tư/ Gặp đèn đỏ trước hàng đinh thứ nhất. Chờ sang đường, đèn xanh vừa bật/ Em quay về. Thành phố mùa đông".

Và lời nhắc chồng cài khuy áo ấy vừa mở đầu vừa khép lại thi phẩm: "Em thấy mình cũng thật vẩn vơ/ Lại đi thương cây bàng trước cửa/ Cây dù nhỏ, gió dù gió dữ/ Hết mùa này cây lại lên xanh/ Sao không cài khuy áo đi anh/ Trời lạnh đấy hôm nay trời trở rét".

Cũng là người phụ nữ, sẽ nhắc người đàn ông cài khuy, nhưng không phải cài khuy cho anh ta mà là cài khuy cho chính cô gái mà anh vừa yêu. Phải chăng trong một phổ niệm loài, giống đực vẫn thường bị coi là khá vô tâm, và nhiều khi vì sự vô tâm ấy mà tan vỡ: "Mở ngăn kéo rồi anh bỏ ngỏ/ Bút viết xong không đậy nắp bao giờ (…) Sau phút giây êm đềm trên ghế đá/ Anh quên cài khuy áo ngực cho em" (Tan vỡ - Dư Thị Hoàn).

Trang phục áo dài của Nam Phương Hoàng hậu.
Trang phục áo dài của Nam Phương Hoàng hậu.

Nhưng dĩ nhiên không phải đàn ông nào cũng vô tâm, vì Nguyễn Duy đã từng có bài lục bát hai câu: "Anh cài cúc áo cho em/ Run tay gói lại một miền cỏ lau" (Gói). Chàng trai ở bài thơ của Nguyễn Duy không những "chu đáo", "cẩn thận" mà dường như vẫn còn giữ nguyên được cái hồi hộp, run rẩy, nhút nhát, rụt rè rất đáng yêu của thuở ban đầu…

Trong một góc nhìn khác, nhà thơ trẻ Nguyễn Đăng Khoa cũng viết được một câu thơ ấn tượng về cài khuy: "Sáng chủ nhật, áo sơ mi/ Anh ngồi thong thả cài khuy nỗi buồn". Nỗi buồn dường như là một sự đón nhận, là một người bạn đồng hành trong trái tim nhạy cảm của người thi sĩ. Hành động đơm khuy - khâu áo gắn với hình ảnh của người mẹ trong nhiều tác phẩm nổi tiếng từ cổ chí kim như "Du tử ngâm" của Mạnh Giao (đời Đường), "Mẹ ngồi khâu áo đêm nay" (bài hát chèo), "Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa" (Nhạc và lời: Nguyễn Văn Tý): "Mẹ hiền sợi chỉ cầm tay/ Khâu hàng khuy áo trước ngày con đi/ Đường kim khăng khít chinh y/ Sợ con chậm trễ không về lại ngay/ Ai hay tấc cỏ lòng người/ Mà đền đáp nổi ánh trời ba xuân".

3. Đã bàn đến chuyện cài khuy, tất phải có chuyện mở khuy, cởi áo. Hành động cởi áo của người phụ nữ khi đi vào thi ca được các thi sĩ miêu tả một cách lãng mạn và kỳ ảo khác thường, từ Tây sang Đông đều có đủ.

Thi sĩ Boris Pasternak (1890 - 1960), giải Nobel Văn học 1958 đã viết bài thơ "Mùa thu" nổi tiếng, được dịch sang tiếng Việt bởi rất nhiều dịch giả, trong đó có bản dịch của Phạm Vĩnh Cư được nhiều người biết tới và yêu thích: "Em cởi áo như cánh rừng trút lá/ Em buông mình cơn ghì siết mê man/ Vòng tay dịu êm qua chiếc áo choàng"… Còn với thi sĩ Bùi Giáng, hành động thoát y thậm chí còn được miêu tả kỹ lưỡng hơn, cả bên trên và bên dưới, nhưng thi sĩ đã có cách diễn tả vô cùng kỳ lạ khiến ta có cảm giác như đang đứng trước một bức tranh siêu thực: "Em về rũ áo mù sa/ Trút quần phong nhụy cho tà huy bay". Không phải cởi áo quần mà là "rũ áo" và "trút quần", hơn nữa, áo phải là áo mù sa và quần phải là quần phong nhụy, Một bầu không khí sương khói bảng lảng được bao phủ lên cặp lục bát, và khi ấy hoàng hôn (tà huy) cũng bay về… Chuyện mở khuy cởi áo không chỉ diễn ra với con người mà còn xảy đến với cả thiên nhiên trong diễn đạt của Vi Thùy Linh, cũng là một cách để ngợi ca tình yêu nồng nàn nơi trần thế và nhan sắc của người phụ nữ: "Mặt trời thoát y vì em trẻ lắm" (Tình tự ca).

Chẳng bao lâu nữa, chúng ta sẽ tạm biệt năm 2019 dương lịch để bước sang năm 2020. Và lúc này, trong tôi bất chợt lại vang lên bài thơ của thi sĩ Thạch Quỳ. Bài thơ có vẻ đẹp trong khiết thanh ngần của một năm mới đang bắt đầu, với những bông hoa mận trắng tinh khôi vừa đơm khuy trong góc vườn thân thuộc. Cả không gian, thời gian, con người và thiên nhiên đang chờ đợi một bước chân từ xa trở về đoàn tụ: Trời đã Tết. Khói xanh mờ bụi nước/ Góc vườn con hoa mận đã đơm khuy/ Lòng như đất lặng thầm mơ dấu guốc/ Cỏ thanh thiên hoa trắng đợi em về…". (Đợi em ngày giáp Tết).

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).