Đọc “Nghề cổ nước Việt”, sách khảo cứu của Vũ Từ Trang, NXB Phụ Nữ, 2019

Tinh hoa phát tiết

Nghề thủ công xưa không được khảo trong các sách chuyên ngành, mà chỉ xuất hiện lẻ tẻ trong các sách dư địa chí, sau cũng ít nhiều được đề cập trong các sách văn hóa tập tục, rồi đến những sách nhỏ khảo cứu làng nghề, ngành nghề...

Trong suốt hai trăm năm công nghiệp hóa và đô thị hóa, nhân loại mất đi nhiều nghề thủ công truyền thống không bao giờ phục hồi lại được nữa. Cho đến xã hội thông tin và công nghệ toàn cầu hiện nay, với sự phát triển toàn diện của ngành Design, các nghề thủ công cổ được nhìn nhận lại, trước tiên phục vụ cho công việc bảo tồn di sản vật thể và phi vật thể, sau đó là những ngành design thủ công và độc bản cũng có cơ hội kinh doanh.

Việt Nam không nằm ngoài vấn đề này, mặc dù công nghiệp của nước ta chậm phát triển, chỉ trong thế kỷ XX, nhưng do chiến tranh, những chính sách kinh tế không thích hợp, nhiều làng nghề thủ công  và nghề thủ công truyền thống cũng suy thoái và biến mất. 36 phố phường Thăng Long xưa cũng là 36 (con số tượng trưng) phường nghề thủ công thay đổi hoàn toàn cho đến chỗ chỉ còn vài gia đình của phố giữ được nghề.

Tác phẩm mới của nhà thơ Vũ Từ Trang.
Tác phẩm mới của nhà thơ Vũ Từ Trang.

Làng Đống Cao, Bắc Ninh, đến cuối những năm 2000, chỉ còn hai gia đình làm giấy dó, làng giấy dó Bưởi thì từ lâu tan biến, làng tranh dân gian Đông Hồ, đến những năm 2000 còn ba gia đình hành nghề, hai làng tranh dân gian Hàng Trống và Làng Sình (Huế) còn một gia đình, làng gốm Thổ Hà tắt lửa từ những năm 1970, làng gốm Chu Đậu còn sớm hơn, làng nghề in khắc sách Hồng Lục – Liễu Chàng cũng chỉ còn dấu vết ở những cuốn sách Hán Nôm cổ.

Cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX, các làng nghề thủ công truyền thông Việt Nam dần dần phá sản trong nền kinh tế tư sản manh nha, và rồi lại gặp thời kỳ chiến tranh dài từ 1946 – 1979, tùy từng giai đoạn, mà nghề thủ công cũng không có cơ hội phát triển.

Trong thời kỳ Bao cấp và Hợp tác xã nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tính chất của sản xuất và thị trường hoàn toàn thay đổi, có nghề phát triển, có nghề đóng cửa. Ví dụ, như làng tranh dân gian Đông Hồ, trở thành tổ sản xuất tranh, nằm trong hợp tác xã nông nghiệp Đông Hồ. Cuối cùng thu vào ba gia đình nghệ nhân là ông Nguyễn Hữu Sam, Trần Ngọc Tấn và Nguyễn Đăng Chế.

Sự phục hồi kinh tế và văn hóa truyền thống hậu chiến, những năm 1987, sau Đổi mới, các làng nghề có cơ hội phát triển trở lại, nhưng nhiều nghề đã suy thoái, biến dạng, cùng với sự du nhập của cơ giới hóa và dây chuyền sản xuất, tính chất nghề thủ công cũng thay đổi với một cách nhìn mới.

Làng nghề, phường nghề và nghề thủ công truyền thống tuy là một vấn đề, nhưng cũng khác nhau. Làng nghề là nói về một nghề thủ công truyền thống được thực hiện từ một làng nhất định, thường là nơi ra đời của nghề đó và đa phần người dân ở đó hành nghề. Nhiều nghiên cứu đã thi vị hóa người nông dân bình nhật thì đi cầy ruộng, vào dịp thì hành nghề, thực tế thì hầu hết các tay thợ đều tham gia làm chuyên nghiệp và tách rời với sản xuất nông nghiệp, tất nhiên có những nơi bán chuyên nghiệp, vừa làm ruộng vừa làm nghề, còn những thợ cả, thợ chính thì hoàn toàn là chuyên nghiệp.

Phường nghề là một bước chuyên nghiệp nữa khi chủ yếu từ làng nghề đi ra mở phường ở đô thị, đặc biệt là Thăng Long. Giữa làng nghề và phường nghề có quan hệ mật thiết, thậm chí là thờ tổ nghề chung.

Nghề thủ công truyền thống được hiểu theo nghĩa rộng, không nhất thiết phải ở làng nghề, phường nghề. Các sắc tộc miền núi có rất nhiều chuyên môn về thủ công, nhưng không hình thành làng nghề và phường nghề, cũng như nhiều cá nhân thợ thủ công hành nghề tự do. Nghề nấu ăn chẳng hạn, không phụ thuộc vào làng nghề hay phường nghề, mà có tính chất địa phương ẩm thực, nhưng hoàn toàn do các đầu bếp tên tuổi nhất định, họ có thể di cư mang theo hương vị ẩm thực của mình. Nấu ăn cũng chuyên nghiệp không kém bất kỳ nghề nào.

Cho đến nay, không có một thống kê chính xác Việt Nam từng có bao nhiêu làng nghề, phường nghề và nghề thủ công truyền thống, cái nào mất, cái nào còn, cái nào biển đổi trong cơ giới hóa và dây chuyền, gần đây còn là áp dụng công nghệ, ví dụ tiện chạm công nghệ theo mẫu mã, hoặc in 3D.

Sách về làng nghề và thủ công truyền thống không nhiều và cũng chưa thật đi sâu vào chuyên môn mang tính kỹ thuật, lý do là ngành nghiên cứu Việt Nam không có truyền thống và rất hạn chế về đầu tư, những người biết nghề thì có xu hướng giữ kín nghề nghiệp, nên không bao giờ công bố các công thức và kỹ nghệ, những người viết về làng nghề và nghề thủ công chủ yếu là các nhà văn hóa có hạn chế nhất định về tay nghề và cũng chẳng có ai có thể nắm được mọi kỹ thuật nghề nghiệp mà viết từng nghề cho rành rọt. Đây là công việc của nhiều thế hệ và nhiều người. Việc những nhà văn hóa viết về làng nghề và nghề thủ công đã là quý lắm, bởi họ có ý thức giữ gìn truyền thống trong khả năng có thể.

Nghề thủ công xưa không được khảo trong các sách chuyên ngành, mà chỉ xuất hiện lẻ tẻ trong các sách dư địa chí, sau cũng ít nhiều được đề cập trong các sách văn hóa tập tục, rồi đến những sách nhỏ khảo cứu làng nghề, ngành nghề. Năm 2002, nhà xuất bản Văn hóa - thông tin có cuốn “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” của Bùi Văn Vượng; năm 2012, Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam cho ra mắt “Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam” gồm 6 tập, do Trương Minh Hằng chủ biên. ngoài ra ta có thể tìm thấy những sách chuyên khác về  gốm Bát Tràng, Chu Đậu, Đồng Nai, nghề sơn ta, nghề đúc đồng, nghề chạm khảm... và vài sách khác do người nước ngoài biên soạn.

Cuốn “Nghề cổ đất Việt” của Vũ Từ Trang, vừa ra mắt trong năm 2019, do Nhà xuất bản Phụ Nữ xuất bản,  là một công trình đáng kể, sau nhiều năm hoạt động văn chương và nghiên cứu văn hóa của tác giả. Ông xuất thân là một trí thức làng Sặt (Trang Liệt) ở Từ Sơn, Bắc Ninh, quê hương của nhiều di sản văn hóa và làng nghề. Nguyên việc khảo cứu làng nghề Kinh Bắc xưa đối với ông là hoàn toàn thuận lợi và các làng nghề Kinh Bắc cũng cởi mở hơn rất nhiều nơi khác trong việc cung cấp thông tin cho người nghiên cứu. Tập sách với 25 nghề cổ:

1.Nghề làm gốm và các làng gốm

2.Nghề trồng dâu, chăn tằm, dệt vải.

3.Nghề rèn

4.Nghề đúc đồng

5.Nghề chạm vàng bạc

6.Nghề làm cầy bừa

7.Nghề làm nón

8.Nghề đan tre, song mây

9.Nghề làm giấy

10.Nghề làm lược

11.Nghề làm quạt

12.Nghề sơn then, sơn thếp, sơn mài

13.Nghề làm pháo và pháo khổng lồ

14.Nghề làm tranh dân gian

15.Nghề chạm khắc đá

16.Nghề mộc, nghề chạm khắc gỗ

17.Nghề dệt chiếu cói

18.Nghề làm mành trúc, mành tre, mành cọ

19.Nghề làm đồ chơi

20.Nghề làm đường mật, bánh kẹo

21.Nghề làm hương xạ, hương trầm

22.Nghề đóng thuyền

23.Nghề chế biến thực phẩm

24.Nghề làm đồ gia dụng

25.Nghề làm vật liệu, cơ khí

Không phải nói thì ai cũng biết để khảo cứu được từng nghề một cách nghiêm túc có chiều sâu, tác giả mất nhiều năm tháng lăn lộn trong thực tế thế nào. Mỗi bài viết là một chuyên khảo nghiên cứu công phu từ địa lý làng nghề, tổ nghề và thời điểm xuất phát, nghi lễ tín ngưỡng cho làng nghề, sự truyền nghề và những đặc điểm kỹ thuật và sản phẩm của nghề.

Cấu trúc của từng bài khác nhau, nhưng vấn đề nội dung tương đối chung nhất, từng mục nông sâu do khả năng khai thác của tác giả và tư liệu để lại, do đó mà từng bài lại không có mẫu nào chung nhất. Mặt khác vốn là nhà văn, ông chú trọng nhiều đến khía cạnh văn hóa của làng nghề.

Chúc mừng tác giả đã đóng góp thêm vào việc lưu giữ vốn văn hóa kỹ thuật truyền thống của dân tộc.

Phan Cẩm thượng

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.