Tính chân xác lịch sử trong tác phẩm dịch

Trong tác phẩm biên khảo lịch sử, tất nhiên trách nhiệm về tính chân xác của các sự kiện và nhân vật lịch sử trước tiên thuộc về tác giả, kế đến là người biên tập của nhà xuất bản theo cơ chế hiện hành. Đối với tác phẩm dịch thuật, trách nhiệm đó không nhiều thì ít còn thuộc về người dịch, trong trường hợp tác giả để lọt nhiều chi tiết thiếu chính xác về mặt lịch sử...

Tác phẩm "Madam Nhu Trần Lệ Xuân: Quyền lực Bà Rồng", dịch giả Mai Sơn, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn phát hành trong thời gian gần đây gợi cho chúng ta đôi điều suy nghĩ về tính chân xác lịch sử của một tác phẩm. Xin chỉ bàn sơ lược về hai khía cạnh:

Tính chân xác về sự kiện và nhân vật lịch sử:

Điều trước tiên có thể nhận thấy là tác giả Monique Brinson Demery không hề có một ý niệm nào về lịch sử Việt Nam có liên quan đến thời kỳ các nhân vật được đề cập đến trong tác phẩm của cô. Về nhân vật Thân Thị Nam Trân, thân mẫu bà Trần Lệ Xuân, những sai sót biểu lộ một cách khá rõ ràng. Ở trang 15, tác giả Demery viết rằng bà Nam Trân là "công chúa, con của Kiên Thái vương (em vua Tự Đức)…". Kiên Thái vương là cha ruột của ba ông vua Đồng Khánh, Kiến Phúc và Hàm Nghi ("Một nhà sinh đặng ba Vua / Vua còn, Vua mất, Vua thua chạy dài"), mất năm 1876.

Nếu là con Kiên Thái vương, bà Nam Trân phải sinh ít nhất vào năm 1876, và do đó bà sẽ lớn hơn chồng bà, ông Trần Văn Chương, vốn sinh năm 1898, những 22 tuổi.  Khi làm quan sát viên Việt Nam Cộng hòa tại Liên Hiệp Quốc vào đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, bà Nam Trân phải gần 90 tuổi, và khi chết (1986), bà đã 110 tuổi! Tất nhiên chi tiết này rất sai, vì ở trang 31, tác giả Demery đã kịp đưa bà Nam Trân từ cương vị em gái vua Đồng Khánh (trang 15) trở về vị trí cháu ngoại của chính ông vua này: "Hoàng đế Đồng Khánh, người trị vì trong thời gian ngắn ngủi từ 1885 đến 1889, là ông ngoại của bà".

Song chính ngay chi tiết bà Nam Trân là "cháu ngoại vua Đồng Khánh" cũng không có cơ sở chứng lý nào vì không thấy có tư liệu khả tín nào xác định thân sinh bà, Thượng thư Thân Trọng Huề, là phò mã của vua Đồng Khánh. Rồi tác giả lại viết: "Một loạt những người anh em họ của bà đã thay nhau kế vị ngai vàng kể từ đó". Điều này càng buồn cười hơn, vì nếu có là cháu ngoại vua Đồng Khánh thì bà Thân Thị Nam Trân ở cùng thế hệ với ông Vĩnh Thụy, tức vua Bảo Đại, cháu nội vua Đồng Khánh. Vĩnh Thụy là người duy nhất thuộc hàng cháu vua Đồng Khánh được cử làm vua, có đâu mà hàng loạt anh em họ của bà Thân Thị Nam Trân thay nhau kế vị ngai vàng như thế!

Bìa cuốn "Madam Nhu Trần Lệ Xuân: Quyền lực Bà Rồng".
Bìa cuốn "Madam Nhu Trần Lệ Xuân: Quyền lực Bà Rồng".

Về năm sinh của bà Thân Thị Nam Trân, cũng có nhiều điều đáng bàn. Theo nhiều tư liệu phổ biến sau cái chết của ông Trần Văn Chương và bà Thân Thị Nam Trân vào năm 1986 thì bà sinh vào năm 1910 hay 1911. Con gái thứ hai của bà là Trần Lệ Xuân sinh năm 1924, chị của bà Trần Lệ Xuân là Trần Lệ Chi sinh khoảng năm 1922-1923, như vậy, khi sinh con, bà Thân Thị Nam Trân mới 11-12 tuổi! Điều này cho phép chúng ta nghi ngờ về những con số liên quan đến năm sinh, tuổi tác của thân mẫu bà Trần Lệ Xuân, đành chờ sự xác định rõ ràng hơn của các bậc thức giả.

Những chi tiết lịch sử như thế tưởng rằng nhỏ, song không hề nhỏ, khi được viện dẫn để kể lại cuộc đời của các nhân vật lịch sử. Chúng có thể được làm nền cho sự tin tưởng hay không vào những chi tiết khác mà người đọc chưa biết rõ hay còn hoài nghi ở một vài điểm.

Những chi tiết đáng bàn trên gợi cho chúng ta về trách nhiệm của người dịch và nhà xuất bản đối với một tác phẩm nước ngoài có dính dáng ít nhiều đến lịch sử Việt Nam. Trong trường hợp người dịch hay người biên tập không có đủ kiến thức lịch sử bao quát về thời kỳ đang được đề cập đến, theo thông lệ, nhà xuất bản cần có thêm một người am hiểu làm công việc hiệu đính, giải thích cho rõ hơn các sự kiện còn mơ hồ, đính chính những sai sót, mâu thuẫn của tác giả, giúp người đọc hiểu vấn đề một cách chính xác và rõ ràng hơn.

Người dịch có trách nhiệm bám sát bản gốc, dịch chính xác về mặt ngôn từ theo một văn phong phù hợp với ngôn ngữ Việt, đó là chuyện đã đành, song với những sai sót của tác giả quá lộ liễu như đã nêu trên, không thể đổ hết phần trách nhiệm cho tác giả vốn là người nước ngoài không am hiểu lịch sử Việt.

Vấn đề ngôn ngữ lịch sử trong các tác phẩm dịch:

Thời Pháp thuộc, nhiều sách báo, tổ chức, cơ quan, đơn vị in bằng chữ Pháp được sách báo Việt đương thời dịch ra tiếng Việt theo một cách dịch riêng, trở thành danh xưng phổ biến vào thời kỳ xuất hiện của chúng. Nếu ngày nay, chúng ta dịch những danh xưng đó theo cách hiểu hiện đại, dù có chính xác hơn, chắc sẽ gây khó khăn cho giới độc giả trẻ khi họ tiếp cận cùng lúc hai cách dịch khác nhau của cùng một ấn phẩm.

Ví dụ tập san "Bulletin des Amis du Vieux Huế", tên dịch nguyên thủy vào thời kỳ tập san này lưu hành là "Tập san Đô Thành Hiếu cổ". Nếu khi dịch, chúng ta dịch là "Tập san những người bạn của cố đô Huế", tuy không sai, song liệu có thể gây ngộ nhận khi người đọc tiếp cận cả hai cách dịch trên không? Tương tự như thế, năm 1880, Pháp thành lập tổ chức Conseil colonial de Cochinchine, sách báo thời đó dịch là Hội đồng quản hạt Nam kỳ chứ không phải là Hội đồng Thuộc địa Nam kỳ như chúng ta hiểu ngày nay; Tập san "Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises" là "Tập san Hội Cổ học Ấn Hoa" chứ không phải là "Tập san Hội Nghiên cứu Đông Dương" như cách hiểu hiện tại.

Liên hệ những nhận định trên vào tác phẩm viết về bà Trần Lệ Xuân, chúng ta thấy có những lấn cấn tương tự, chẳng hạn Tổng đốc Trần Văn Thông thì dịch là "Thống đốc tỉnh ở Bắc kỳ thuộc Pháp" - một chức vụ không hề có trong cửu phẩm văn giai của triều đình Huế. Tương tự như thế, trong lúc tiếng nước ngoài (chủ yếu tiếng Anh và Pháp) không có nhiều cách diễn tả như của ta, việc dịch ra tiếng Việt một số tiếng nước ngoài như prince hay princess (prince hay princesse trong tiếng Pháp) đòi hỏi một sự thận trọng và nắm hiểu rõ thân trạng của nhân vật đang được đề cập đến.

Còn nhớ trong một kỳ SEA Games diễn ra tại Brunei, phương tiện truyền thông chính là Đài Truyền hình Việt Nam VTV đã "phong" vị Trưởng Ban tổ chức là "hoàng tử" (con quốc vương), nhưng khi vị này lên thắp đuốc, người ta giật mình vì thấy ông già xấp xỉ vị quốc vương Brunei. Hóa ra, thay vì dịch từ "prince" trên báo chí nước ngoài là "hoàng thân" (thân tộc của vua), người ta đã vội vàng và máy móc dịch từ này là "hoàng tử" (con vua).

Trong tác phẩm của Demery viết về bà Trần Lệ Xuân, ở trang 15, người dịch đã chuyển ngữ:  "…bà Nam Trân, là công chúa, con của Kiên Thái vương (em vua Tự Đức)…". Nếu quả thật, bà Nam Trân là con của một thân vương như Kiên Thái vương thì chẳng thể gọi bà là "công chúa" được, nếu tác giả dùng từ "princess" thì chỉ có thể dịch bà là "công nữ".

Ở trang 16, tác giả Demery viết: "Khi tiếp khách, bà yêu cầu mọi người không được mặc y phục màu vàng, màu hoàng gia, ngoại trừ bà". Chi tiết này cũng khá buồn cười, vì 2 lẽ:

- Nếu quả thực bà Nam Trân là cháu ngoại vua Đồng Khánh, thì với họ Thân thừa hưởng từ thân sinh của bà là ông Thân Trọng Huề, bà chẳng có tư cách gì để xử sự như một người trong hoàng tộc.

- Màu vàng chẳng bao giờ là "màu hoàng gia" cả. Nó là màu sắc dành riêng cho hoàng đế Việt Nam, không ai, kể cả anh, em, con, cháu ruột của nhà vua được sử dụng. Về chi tiết này, nếu nguyên bản được dịch đúng, nó chứng tỏ tác giả hiểu và suy diễn một cách sai lạc về một việc làm của bà Nam Trân.

Tất nhiên, một vài suy nghĩ nho nhỏ về mặt lịch sử của một tác phẩm dịch đang được nhiều người tìm đọc không thể ảnh hưởng nhiều đến giá trị của tác phẩm hay bản dịch. Giá trị của nó còn được thử thách bởi thời gian, bởi nhiều tài liệu khả tín khác hay chứng nhân lịch sử của thời kỳ này. Người viết bài này có một vài ý kiến sơ qua về mặt lịch sử, mong đóng góp chút nào vào việc hoàn thiện các bản dịch về sau.

Lê Nguyễn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).