Tình ca và quê hương - Nguồn cảm hứng vô tận của Nguyễn Đình San

Khoảng những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, có 2 bài hát khiến tôi chú ý của một tác giả khi ấy chưa nhiều người biết tới - một bài dành cho thiếu nhi và một bài cho người lớn. Đó là "Hè về" và "Có anh ở đảo" của Nguyễn Đình San. Tác giả này còn gắn với nhiều bài lý luận, phê bình sắc sảo và thẳng thắn về âm nhạc mà tôi đọc được. Tôi bắt đầu có cảm tình với anh từ đó.

Lúc này, tôi cũng chuyển công tác từ Nam Định vào Đồng Nai nên không có điều kiện thường xuyên lên Hà Nội thu thanh tiết mục cho đội Vàng anh như trước. Nhưng tôi luôn theo dõi Đài Tiếng nói Việt Nam nên thi thoảng lại nghe được ca khúc của Nguyễn Đình San. Có một bài vụt lên, về sau có sức lan tỏa rộng rãi. Đó là bài "Chiều nắng" mà người hát đầu tiên là NSND Thanh Hoa (khi ấy chị chưa được phong danh hiệu này nhưng đã rất nổi tiếng): "Không có mây để nhớ. Không có mưa để buồn. Chiều chia tay rất nắng. Nón em chừng nghiêng hơn…".

nhạc sĩ nguyễn đình san.jpg -1
Nhạc sĩ Nguyễn Đình San.

Bài hát gây ấn tượng tốt cho người nghe ngay từ lần phát sóng đầu tiên bởi tác giả tạo nên một giai điệu rất độc đáo, pha trộn chất liệu dân ca cả 3 vùng đồng bằng Bắc bộ, Nam bộ và miền Trung thật khéo léo. Cảm giác bâng khuâng, nhung nhớ, bịn rịn rất phù hợp với một bài tình ca dành cho những lứa đôi, nhưng không còn trẻ mà tác giả đã viết rằng "Cái thời hoa gạo cháy xa mãi rồi anh ơi!".

Sau này, khi quen biết và trở nên thân thiết với Nguyễn Đình San, anh kể rằng bài hát bắt nguồn từ một bài thơ có tên "Chiều chia tay" của một nữ tác giả đăng ở tạp chí văn nghệ của tỉnh Hà-Sơn-Bình cũ. Anh đổi lại tên bài là "Chiều nắng" và thay lời ở câu kết. Thơ là "Bàn chân rồi dừng bước, nhưng mắt, lòng em theo", nhạc sĩ sửa là "Bàn chân rồi dừng bước. Thương nhớ lòng không vơi".

Lúc này tôi vẫn chưa biết nhiều về Nguyễn Đình San, chỉ nghe nói anh từng làm ở Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, về sau chuyển sang đứng đầu Trung tâm Văn hóa Hà Nội. Thế là chúng tôi thành đồng nghiệp - cùng quản lý Nhà văn hóa, nhưng vẫn chưa một lần gặp mặt. Rồi một ngày kia, tôi bỗng nhận được cuốn "100 gương mặt nhạc sĩ Việt Nam tiêu biểu thế kỷ 20" (NXB Thanh niên) anh gửi vào Đồng Nai tặng tôi. Cuốn sách do anh tuyển chọn và bình luận về từng nhạc sĩ, trong đó có tôi. Từ đó, chúng tôi thường xuyên trao đổi thư từ và điện thoại.

Tôi lấy làm ngạc nhiên và thú vị khi thấy anh chưa một lần gặp mà tỏ ra rất hiểu về tôi. Anh bảo rằng qua tác phẩm mà "bắt hình dong". Anh bình luận thật chí lý và sâu sắc về hai bài hát của tôi về sau được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật (bài "Dòng sông" và "Hạt gạo làng ta"). Và chúng tôi trở nên thân thiết, đồng cảm. Nhưng cũng vẫn chưa gặp mặt mà tất cả chỉ qua điện thoại. Rồi đến một ngày hè năm 2015, nhân vào Sài Gòn, anh đã đến Biên Hòa chơi với tôi.

Từ phút này, chúng tôi trở thành bạn vong niên thân thiết. Nguyễn Đình San kém tôi một giáp - cùng tuổi Tuất, có nhiều điểm tương đồng về tính cách và quan niệm nhân sinh. Thường thì theo thời gian, sức làm việc, đặc biệt là sáng tạo trong nghệ thuật sẽ suy giảm bởi ảnh hưởng của tuổi tác và cảm xúc. Nhưng Nguyễn Đình San ngược lại: Sau khi đã nghỉ hưu, đặc biệt là gần đây, khi anh đã vượt qua tuổi 70, sáng tác càng nhiều và hay hơn trước. Trong tổng số hơn 500 ca khúc cả cho người lớn và thiếu nhi thì một nửa trong số đó anh viết trong mươi năm trở lại đây. Nhưng trong sáng tác, vấn đề không phải là số lượng mà là chất lượng.

Ca khúc của Nguyễn Đình San gây được hứng thú thẩm mỹ cho người nghe, phần lớn là những bài tình ca, dạt dào âm hưởng dân gian và gắn với tình yêu quê hương đất nước chứ ít khi chỉ nói chuyện tình yêu lứa đôi thuần túy kiểu như bài "Chiều nắng". Đến nay, anh đã có hàng loạt bài hay, được người nghe ưa thích như: "Trên dòng sông Lai Hạ", "Thành phố ấy", "Về Hà Tiên", "Lời của sóng", "Đưa anh về bản", "Tuy Hòa một khúc thu" (thơ của Nguyễn Thế Khoa"), "Chiều Nhật Lệ", "Một thoáng Đắk Nông" (thơ Nguyễn Thế Hùng), "Nhớ quê" (Thơ Mai Thìn), "Tháng giêng" (thơ Như Bình)…

Viết tình ca gắn với những miền quê hương đất nước là sở trường đặc biệt, thế mạnh của Nguyễn Đình San. Hầu như mọi ca khúc của anh đều tập trung ở hai mảng này. Tình ca của anh luôn chạm được vào trái tim người nghe bởi có giai điệu đẹp, rất tha thiết, đậm đà phong vị dân ca nên dễ vào lòng người. Mới nghe đã thấy hay, càng nghe nhiều càng thẩm thấu sâu sắc thêm. Viết về đâu, anh luôn triệt để khai thác chất liệu dân ca vùng đó nhưng chỉ loáng thoáng hơi hướng chứ không quá lệ thuộc. Người nghe thấy rõ bài đó là viết về nơi đó, không thể đặt lời ca nói về vùng khác. Nhưng bảo tìm ra điệu dân ca nào thì lại không dễ.

Tôi cho rằng đó là một chủ trương hay, cần thiết để tạo nên vẻ độc đáo, mới mẻ cho ca khúc mà không lẫn lộn với người khác. Ví như bài "Tuy Hòa một khúc thu" (phổ thơ của Nguyễn Thế Khoa) là tiêu biểu cho khuynh hướng này. Tôi từng đặt chân đến Tuy Hòa (Phú Yên), thấy bài hát ra đúng chất nơi đây nhưng cứ nghĩ mãi xem tác giả khai thác từ bài dân ca nào thì không rõ. Hỏi thì Nguyễn Đình San nói là chẳng từ điệu nào mà tưởng tượng ra âm nhạc vùng đó sẽ như thế. Bài này nghe bâng khuâng, ngọt ngào và hiện ra một bức tranh về Tuy Hòa thật diễm lệ, thực thực hư hư rất thú vị. Trường hợp khác là bài "Nam Định - khúc tình ca" anh phổ thơ của Nguyễn Thế Minh. Bài này phảng phất điệu hát văn của Nam Định thật ngọt ngào và duyên dáng.

bìa tuyển tập ca khúc của nhạc sĩ nguyễn đình san.jpg -0
Bìa tuyển tập ca khúc của nhạc sĩ Nguyễn Đình San.

Ca khúc của Nguyễn Đình San có ưu điểm không dễ đạt được: Không bài nào giống bài nào, kể cả cùng khai thác một chất liệu và viết trong cùng một thời gian. Nghe khác hẳn nhau nhưng lại nhất quán trong một phong cách: Duyên dáng, uyển chuyển, rất trữ tình của giai điệu. Anh biết tạo những điểm nhấn và biết "làm duyên" ở những chỗ cần thiết. Viết về vùng đất võ Bình Định, anh có 3 bài cùng khai thác chất liệu dân ca bài chòi xứ Nẫu là "Em về Bình Định với anh", "Về Bình Định" và "Nhớ Bình Định" mà nghe rất khác biệt, không thể lẫn lộn.

Chẳng những phong phú về đường nét giai điệu mà ca khúc của Nguyễn Đình San còn đa dạng về thể loại. Anh viết cho đơn ca hay mà viết cho hát tập thể, hành khúc cũng rất hiệu quả. Có những đề tài dễ bị coi là khô mà anh vẫn cho ra được những ca khúc có sức lôi cuốn người nghe và quần chúng trong ngành thích hát, ví như "Sức trẻ 69-1" viết cho Công ty lắp máy 69-1 hoặc "Hành khúc Công an nhân dân"… 

Một thế mạnh nữa của Nguyễn Đình San là làm ca từ hay. Có lẽ do anh được học ở Tổng hợp Văn ra và cũng làm nhiều thơ. Từ ngữ của anh đắt, chau chuốt và luôn hài hòa với giai điệu. Vậy nên khi nhà thơ có thơ được anh phổ nhạc đã luôn hài lòng khi thấy anh sửa sang, thêm, bớt lời thơ của mình để ưu tiên cho mạch giai điệu phát triển.

Kẻ Bắc, người Nam, nhớ nhau, cứ vài ngày chúng tôi lại nói chuyện dài qua điện thoại. Anh bày tỏ một quan niệm tôi cho là rất chính xác. Đó là viết về vùng nào, về nội dung gì phải tạo ra được giai điệu gợi đúng, gợi rõ được về mảnh đất đó, nội dung đó. Ví như gần đây nhất, anh phổ bài thơ "Tháng giêng" của nhà văn Như Bình: "Tháng giêng như sương bay, mịt mờ qua hồ vắng. Kiếm tìm một bàn tay. Tĩnh lặng tay cầm tay…" Lời thơ vẽ nên một bức tranh thật đẹp về tháng giêng với mưa phùn, sương rơi, bảng lảng sương khói và có chút tâm trạng hơi buồn, cô đơn của con người. Anh tìm được một giai điệu với đường nét âm nhạc rất gợi cảm, thể hiện đúng được nội dung của lời thơ. Nghe thấy lành lạnh, bâng khuâng, hư ảo rất thú vị.

Nếu có dịp tiếp xúc với Nguyễn Đình San ở thời điểm hiện tại, bạn sẽ không thể biết chính xác tuổi của anh vì sức làm việc, "nhựa" trong sáng tác vẫn còn nguyên vẹn phong độ như mấy chục năm trước. Riêng sáng tác còn hiệu quả hơn. Có lẽ chính vì làm việc nhiều đã như một bài tập thể dục thần diệu giúp anh vượt qua giới hạn khắc nghiệt của thời gian mà theo quy luật, không ai có thể cưỡng lại.

Nhạc sĩ Trần Viết Bính

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).