Tìm lại tiếng hát ru

Hát ru là loại dân ca phổ biến ở bất kỳ nơi nào trên trái đất. Riêng Việt Nam mỗi vùng miền, mỗi dân tộc, mỗi địa phương lại có giọng điệu hát ru riêng biệt: Hát ru vùng đồng bằng Bắc bộ, hát ru Huế, hát ru Nam bộ, Trung bộ, hát ru Tây Nguyên, hát ru các dân tộc thiểu số miền Đông Bắc, Tây Bắc, hát ru Thanh Nghệ Tĩnh v.v...

Miền hạ lưu châu thổ sông Hồng gồm các tỉnh phía Nam đồng bằng Bắc bộ, nơi nào cũng có tiếng hát ru trên cánh võng, bên vành nôi, đung đưa trên đôi tay trìu mến của mẹ, của chị, của bà.

Đố ai ngồi võng không đưa/ Ru con không hát đò đưa không chèo...

Nhà thơ đồng quê Nguyễn Bính ở Nam Định từng viết: ''Trong bụng mẹ ai cũng mê tiếng hát/ Nên quê tôi ai cũng biết làm thơ/ Dù trẻ nhỏ nằm nôi hay đặt võng/ Sớm hay chiều đều mượn cánh cò đưa...

Cánh cò là biểu trưng của vùng đồng ruộng thẳng cánh cò bay ở Bắc bộ. Người nông dân luôn luôn gắn bó với đồng ruộng, với con trâu đi cày và với cánh cò, cánh vạc lúc làm lụng cả ban ngày, ban đêm, vì vậy cánh cò thường được đưa vào các bài hát ru của các bà mẹ: ''Cái cò mày đi ăn đêm/ Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.../ Ông ơi! Ông vớt tôi nao/ Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng/ Có xáo thì xáo nước trong/ Đừng xáo nước đục đau lòng cò con!''

Với chức năng tình cảm và giáo dục, người mẹ đã chọn cho mình một phương tiện duy nhất thuận lợi theo bản năng tự nhiên, đó là tiếng hát ru, một hình thức thi ca và âm nhạc sơ khai gắn liền với tiếng nói của mẹ: À ơi!... à ơi!.../ Con ơi! Muốn nên thân người/ Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha/ Gái thì giữ nghiệp trong nhà/ Khi thì canh cửi, khi ra thêu thùa/ Giai thì đọc sách ngâm thơ/ Dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa/ Mai sau nối được nghiệp nhà/ Trước là đẹp mặt sau là ấm thân. Hoặc là: À ơi!.... à ơi!/ Công cha như núi Thái Sơn/Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra/ Một lòng thờ mẹ kính cha/ Cho tròn chữ Hhiếu mới là đạo con? v.v...

Nhiều khi người mẹ mượn tiếng hát ru để thổ lộ tâm tình, thổ lộ những nỗi niềm riêng tư, đắng cay, oan trái của cuộc đời riêng mà không thể giãi bày cùng ai, đành mượn lời ru thở than nhân thế: "Cái cò là cái cò quăm/ Mày hay đánh vợ mày nằm với ai/ Có đánh thì đánh chiều mai/ Đừng đánh chiều tối chả ai cho nằm!"; "Con cò mày mổ con trai/ Bu ơi! Bu lấy vợ hai cho thày/ Có lấy thì lấy vợ gầy/ Chớ lấy vợ béo nó đánh cả thầy lẫn bu!"; "Trời mưa lác đác ruộng dâu/ Cái nón đội đầu, cái thúng cắp tay/ Bước chân xuống hái dâu này/ Nuôi tằm cho lớn mong ngày ươm tơ/ Thương em chút phận ngây thơ/ Lầm than đã trải, nắng mưa đã từng/ Xa xôi ai có tỏ chừng/ Gian nan tâm khổ ta đừng quên nhau!"; "Nhớ khi lòng mới hiểu lòng/ Sớm quanh ngõ trước, tối vòng cổng sau/ Đêm khuya sương đẫm cành dâu/ Anh kéo vạt áo che đầu cho em/ Nhớ khi hương lửa bén duyên/ "Chỉ trời, vạch đất thề nguyền có nhau/ Ra ngoài chồng trước vợ sau/ Sớm chiều quấn quyét như dâu với tằm/ Bây giờ con bế con bồng/ Đón anh cổng trước, anh vòng cổng sau/ Đêm khuya sương đẫm cành dâu/ Chờ anh mỏi mắt canh thâu chưa về/ Trách ai gió quyến lời thề/ Tóc mây chưa bạc, tình kia nhạt dần/ Đã khi lời nói tục tằn/ Lại khi dùi đục cẳng chân phũ phàng/ Em nói ra xấu thiếp, hổ chàng/ Bao lần canh vắng can tràng xót xa...".

Nội dung hát ru vùng đồng bằng Bắc bộ không chỉ dừng ở đấy. Tiếng hát ru rất phong phú, ngoài những tâm tư tình cảm của mẹ với con, nỗi niềm riêng tư người mẹ cần thổ lộ, người mẹ còn mượn tiếng hát ru để phổ biến kinh nghiệm làm ăn, lịch sinh hoạt và những vấn đề xã hội có liên quan đến cuộc sống con người: "Con ơi con ngủ cho lành/ Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi/ Muốn coi lên núi mà coi/ Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng..."; "Tháng Giêng là tháng ăn chơi/ Tháng hai cờ bạc, tháng Ba hội hè/ Tháng tư đong đậu nấu chè/ Ăn tết Đoan Ngọ trở về tháng năm/ Tháng sáu buôn nhãn bán trăm/ Tháy bảy ngày rằm xá tội vong nhân/ Tháng tám chơi đèn kéo quân/ Trở về tháng chín chung chân buôn hồng...".

Lời hát còn gợi những tâm lý tò mò cho con trẻ khi nó đã vài ba tuổi đồng thời người mẹ cũng mượn lời ru để nói lên những nghịch lý của xây dựng mà đương thời thì khó nói: "Con kiến mày kiện củ khoai/ Mày chê tao khó lấy ai làm giàu?/ Nhà tao chín đụn, mười trâu/ Có ao thả cá, bắc cầu rửa chân/ Có rửa thì rửa chân tay/ Chớ rửa lông mày chết cá ao anh/ Nhà anh có một cây chanh/ Nó chửa ra cành, nó đã ra hoa

Nhà anh có một mẹ già/ Thổi cơm không chín, quét nhà không nên/ Ăn cỗ lại ngồi mâm trên/ Mâm son bát sứ bưng lên cho bà/ Bà ăn xong bà đổ ra nhà/ Gọi cháu gọi chắt dắt bà đi chôn...".

Có thể nội dung bài hát này là tâm sự của một người con dâu đối với người mẹ chồng khắc nghiệt, chỉ mượn lời hát ru của người con dâu đó mới trút được những nỗi bất bình.

Hoặc: "Con chim chích chòe/ Nó đậu cành chanh/ Tao lấy mảnh sành/ Tao vành vào cổ/ Đem về làm cỗ/ Được ba mâm đầy/ Ông thầy ăn một/ Bà cốt ăn hai/ Còn thừa cái thủ cái tai/ Đem sang biếu chú/ Chú hỏi thịt gì?/- Thịt con chim chích/ Nó đậu cành chanh..." v.v....

Là tiếng nói vừa dí dỏm, hóm hỉnh vừa có tính chiến đấu cao của hát ru. Từ những lời hát kể trên ta thấy hát ru vùng đồng bằng Bắc bộ nổi lên một vài đặc điểm đáng lưu ý sau đây:

- Bao giờ bắt đầu câu hát có lời giáo đầu "À ơi! À ơi!" rồi mới đi vào nội dung bài hát. Khúc giữa câu 8 có tiếng đệm "a"... khi kết thúc cũng bằng tiếng đệm "À ơi! À ơi!"...

- Thể thơ cho hát ru chủ yếu là 6/8, có cả bài 7/7, 6/8. Lại có bài theo thể 5 chữ hoặc 4 chữ, đọc vần như vè. Vì vậy nó rất tự do không nhất thiết phải theo khuôn khổ nào, cốt sao chuyển tải được nội dung. Làn điệu và tiết tấu của bài hát cốt sao êm êm, du dương có sức làm dịu thần kinh đứa trẻ, để đứa bé vào giấc ngủ ngon lành. Vì vậy, bài hát ru không thể cầu kỳ phức tạp, dẫu là câu nhạc ngắn gọn hoặc dàn trải nhưng tầm âm hưởng không vượt ra ngoài quãng 8, tiết tấu khoan thai, êm ái hòa cùng tiếng võng đưa nhịp nhàng, kết hợp với nhịp điệu đều đặn của trái tim trẻ thơ.

- Làn điệu trong hát ru đồng bằng Bắc bộ khá phong phú. Người ta đưa nhiều làn điệu dân ca khác vào hát ru như sa mạc, bông bạc, cò lả, lẩy Kiều, các làn điệu Chèo như ngâm, sổng, tò vò v.v... Nhưng bản sắc riêng của hát ru vẫn không hề lẫn và mất đi.

Dưới đây là lời một số bài hát ru (lời cổ) ở vùng đồng bằng Bắc bộ mà ta thường nghe thấy trên địa bàn dân cư các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hưng Yên... "Bống bồng mà nấu canh tôm/ Ăn vào mát ruột đến hôm lại bồng/ Bống bồng mà nấu canh khoai/ Ăn vào mát ruột đến mai lại bồng/ Bống bồng mẹ bế con sang/ Đò dọc quan cấm đò ngang không chèo/ Muốn sang thì bắc cầu kiều/ Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy"; "Em tôi buồn ngủ buồn nghê/ Buồn ăn cơm nếp cháo kê thịt gà/ Buồn ăn đậu phụ bánh đa/ Buồn ăn cơm nếp thịt gà cháo kê"; "Cái ngủ mày ngủ cho lâu/ Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về/ Bắt được con trắm con trê/ Thắt cổ lôi về bắc nước làm lông/ Miếng nạc dành để phần chồng/ Miếng xương phần mẹ, miếng lòng phần con"; "Con cò là con cò con/ Mẹ đi xúc tép để con ở nhà/ Mẹ đi một quãng đồng xa/ Chân mẹ la đà dẫm phải vũng lươn/ Ông kia có chiếc thuyền con/ Chèo vào bụi rậm xem lươn bắt cò"; "- À ơi... à ơi/ Ta sinh ra ở trên đời/ Có tai có mắt khác loài vô tri/ Lọt lòng xưa chửa biết gì/ Nay ta đã lớn phải suy cho rành/ Vì ai nên mới có mình/ Mẹ cha ơn đức, công trình xiết bao/ Ơn này sánh với trời cao/ Trong lòng con dám lúc nào nhãng quên/ Tập sao nên được con hiền/ Để cho cha mẹ khỏi phiền vì ta/ À ơi... à ơi!/ Một lòng phép tắc nết na/ Biết sợ, biết kính mới là người ngoan"; "Rủ nhau xuống bể mò cua/ Đem về nấu quả me chua trên rừng/ Em ơi chua ngọt đã từng/ Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau"v.v...

Do hát ru chủ yếu dựa vào các thể thơ lục bát, song thất lục bát, ngũ ngôn nên các bài ru con sau này người ta vận dụng thời cuộc để giáo dục con em và nhân dân, hát ru được nâng thành phương tiện đấu tranh cách mạng của nhân dân rất sâu sắc. Nhiều câu ca dao yêu nước căm thù địa chủ, ghét tây, yêu Đảng, yêu Bác Hồ và nhân dân được đưa vào hát ru khá phổ biến.

Ý nghĩa dân gian của hát ru khi này đã trở nên một sức mạnh giáo dục và tuyên truyền sắc bén, làm cho hát ru không chỉ dừng ở tác dụng ru con, ru em, ru cháu cho nó ngủ ngon, mà hát ru còn là hình thức tuyên truyền cổ động, giáo dục khác hấp dẫn. Đó là thời kỳ đầu của thế kỷ XX đến Cách mạng Tháng Tám - 1945 và suốt cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Nhiều bài hát ru đã có sức mạnh tuyên truyền cho sản xuất, chiến đấu và xây dựng con người mới XHCN.

Tiếc rằng những năm gần đây lớp thanh niên không mấy ai hát ru và tiếng hát ru con trên cánh võng, vành nôi hầu như vắng dần và nhường chỗ cho các bản nhạc, băng đĩa xập xình kiểu mới.

Hy vọng một thời gian không xa, chúng ta sẽ tìm được cách dung hòa giữa cái cũ và cái mới để vốn quý cổ truyền không bị mất đi và nó sẽ tồn tại song song với cái mới đang phát triển, để giữa cũ và mới, luôn luôn có sức hấp dẫn, phục vụ cho yêu cầu thẩm mỹ của con người, phù hợp với con người hiện đại.

Trịnh Hữu Thịnh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).