Đọc tiểu thuyết “Hạc Hồng” của nhà văn Lê Hoài Nam, NXB Hội Nhà văn, 2019

Tiểu thuyết “Hạc Hồng” và vấn đề đạo đức xã hội

“Hạc Hồng” là tiểu thuyết có dung lượng vừa phải (370 trang) đã dựng lại một cách sinh động bức tranh xã hội với những diễn biến phức tạp có sự đan xen giữa đạo và đời, cái tốt và cái xấu, cái chân thực và cái giả dối...

Trong dòng chảy của văn xuôi đương đại, một số cây bút đã bắt kịp những vấn đề nóng bỏng và bức xúc trong đời sống xã hội những năm gần đây: thân phận con người trong dòng xoáy của kinh tế thị trường, sự suy thoái và xuống cấp về đạo đức xã hội...

Nhưng không phải nhà văn nào cũng dũng cảm đặt ra các vấn đề đó một cách trực diện. Với niềm say mê sáng tạo nghệ thuật cùng những trải nghiệm và trăn trở của người cầm bút, nhà văn Lê Hoài Nam đã không né tránh khi đặt bút khai thác những lĩnh vực được cho là nhạy cảm và gửi gắm nhiều thông điệp sâu sắc qua cuốn tiểu thuyết mới nhất của ông.

“Hạc Hồng” là tiểu thuyết có dung lượng vừa phải (370 trang) đã dựng lại một cách sinh động bức tranh xã hội với những diễn biến phức tạp có sự đan xen giữa đạo và đời, cái tốt và cái xấu, cái chân thực và cái giả dối. Bối cảnh không gian của tác phẩm là một vùng quê yên ả, thanh bình thuộc một tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, nơi có con sông Vạm hiền hòa chảy qua, có cánh đồng ngát thơm của lúa nếp thầu dầu và lúa tám xoan, có một ngôi đền thánh, một trường THPT, một phòng khám chữa bệnh tư của giáo xứ.

Nắm bắt được thực trạng xã hội đương thời, nhà văn Lê Hoài Nam đã xây dựng những chân dung nhân vật ấn tượng để phản ánh đạo đức xã hội với biết bao vấn đề nóng bỏng: từ chuyện mua quan bán chức, tham ô tham nhũng đến chuyện ô nhiễm môi trường. Từ chuyện làm từ thiện, khám chữa bệnh đến chuyện dạy học văn trong nhà trường hiện nay…

Bìa cuốn tiểu thuyết mới của nhà văn Lê Hoài Nam.
Bìa cuốn tiểu thuyết mới của nhà văn Lê Hoài Nam.

Ám ảnh nhất là tình trạng những sinh linh bị tước bỏ quyền sống ngay từ khi còn ở trong bụng mẹ, bị cho vào những túi ni lông và vứt xuống dòng sông Vạm. Những vấn đề nhức nhối đó diễn ra trong một xã hội mà bề ngoài tưởng như thanh bình, êm ả, được nhà văn phơi bày ra ánh sáng thanh thiên bạch nhật và giải quyết một cách tự nhiên nhờ những con người tâm phúc: Nhân vật chính của tiểu thuyết là ông Lương Hải Hựu - Phó giám đốc Sở, người phải làm đơn xin nghỉ hưu sớm trước tuổi vì mệt mỏi và buông xuôi trước những đấu đá bọn chen, mưu kế của đồng nghiệp.

Về hưu, cũng là lúc ông tĩnh tâm để nhìn lại cuộc đời mình, những mất mát và những điều đã gây dựng được từ thực lực và tâm huyết của ông. Về hưu, cũng là lúc ông có thời gian để lắng nghe cơ thể mình lên tiếng.

Sau khi phát hiện bị tiểu đường, ông được con gái Lương Hải An - một giáo viên dạy Văn đồng thời là Phó hiệu trưởng một trường THPT đưa đến phòng khám Hoa Huệ điều trị. Đó là phòng khám của nhà thờ, do linh mục Dương Khắc Thiệu phụ trách.

Ông còn được cô con gái yêu duy nhất hướng dẫn cách sử dụng mạng xã hội để tiếp cận với những vấn đề xảy ra hằng ngày, hằng giờ mà con người ở thời đại công nghệ số 4.0 không thể không biết. Vốn là một cựu quân nhân, sau đó chuyển ngành từ quân đội về cơ quan dân sự, làm cán bộ cấp Sở bao nhiêu năm thì không dễ gì mà Lương Hải Hựu có thể đón nhận những bài giảng đạo của linh mục Thiệu áp lên Facebook vào mỗi dịp cuối tuần. Sự e dè, cảnh giác ở ông là tâm lý tất yếu của một người từng vào sinh ra tử. Nhưng nhờ mắt thấy tai nghe những việc làm chân chính của nhà thờ, của linh mục và các xơ mà dần dà, ông đã có cái nhìn thiện cảm hơn với đạo Thiên Chúa, với những bài thuyết giáo của linh mục.

Những vấn đề bức xúc mà xã hội không thể hoặc chưa thể giải quyết thì đền thánh Hải Hà đã chìa tay ra, như: xây nghĩa trang Thiên Thần làm nơi an nghỉ cho hàng ngàn hài nhi xấu số; mở phòng khám Hoa Huệ để khám và chữa bệnh cho nhân dân với mức chi phí thấp; là nơi trú ngụ cho những người cơ nhỡ, thậm chí còn dang rộng vòng đón nhận những con người lầm lạc khi họ biết sám hối về những việc ác mà họ đã gây ra cho đồng loại. Chúa nhân từ và bao dung. Điều đó rất gần với triết lý của nhà Phật bởi Phật từng dạy rằng: “Tài sản lớn nhất của đời người là lòng khoan dung”.

Như vậy, mục đích của Lê Hoài Nam không phải là hướng người đọc đến một niềm tin tuyệt đối vào Chúa mà nhà văn khẳng định giáo lý của Thiên Chúa rất gần gũi với đời sống của nhân loại, luôn hướng con người ta đến cái Thiện, diệt trừ cái ác.

Nhà văn đã xây dựng nhân vật linh mục Dương Khắc Thiệu - sứ giả của Nước Chúa, người từng tham gia cuộc chiến Tây Nam, chứng kiến tội ác man rợ của quân Pôn Pốt, ám ảnh đến nỗi mắc bệnh trầm cảm, tìm đến nương náu dưới chân Chúa như một cơ duyên, như được tái sinh cuộc đời thứ hai nên được vào chủng viện đào tạo từ năm 19 tuổi, đến năm 37 tuổi thì được thụ phong linh mục. Người không chỉ thông tuệ mà còn chăm lao động và giàu lòng nhân ái, được nhân dân kính nể, tin phục.

Cốt truyện “Hạc Hồng” có sự lôi cuốn đặc biệt bởi những tình tiết bất ngờ, sự đan xen giữa chuyện đời và chuyện đạo, giữa quá khứ và hiện tại. Đặc biệt, nhà văn khéo léo lồng vào ý nghĩa của Kinh Thánh qua việc tái hiện cuộc đời của Chúa Giê-su cùng hành trình nhiều gian truân của Người để giúp chúng sinh giác ngộ chân lý.

Sự ra đời của bài hát huyền thoại trong đêm Giáng sinh, sự phản bội của môn đệ, quá trình tử nạn của Chúa được nhắc đến qua các bài thuyết giáo của linh mục Dương Khắc Thiệu là những chi tiết gây ấn tượng mạnh, vừa hiện thực lại vừa mang sắc màu huyền ảo.

Thành công của tiểu thuyết “Hạc Hồng” là đã phản ánh sinh động tình trạng đạo đức xã hội có nguy cơ bị xói mòn vì đồng tiền ngự trị, vì lối sống thực dụng của một bộ phận cán bộ lãnh đạo thoái hóa biến chất bằng cách xây dựng nhân vật Giám đốc sở Hoàng Ngọc Tốt lắm mưu nhiều kế, người muốn lợi dụng việc xây nhà máy xử lý rác thải, khắc phục ô nhiễm môi trường của dòng sông Vạm để nhân dân phải xây đền thờ sống hắn.

Trơ trẽn, tráo trở và tham lam, đó là bản chất của những kẻ như hắn. Xã hội hiện tại không hiếm những con người giả dối như bà Nhân Ái, đi làm từ thiện khắp nơi, lên truyền hình chỉ để “làm màu” nhưng lại nhất mực từ chối một chỗ nghỉ tạm qua đêm khi có người cầu khẩn.

Tuy nhiên, bức tranh xã hội trong tiểu thuyết “Hạc Hồng” không chỉ toàn một màu u ám khiến người đọc mất niềm tin hay bi quan về xã hội, về những người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, bởi bên cạnh những nhân vật tha hóa về đạo đức và lối sống như Hoàng Ngọc Tốt, chúng ta vẫn bắt gặp những cán bộ liêm khiết, trong sạch, hết lòng vì cái tốt, cái thiện.

Đó là Lương Hải Hựu, tuy mấy chục năm ngụp lặn trong guồng máy quyền lực, giá trị nhân bản ở con người ông tuy bị hư hao đi ít nhiều nhưng nó đã được đánh thức và hồi sinh. Đó là xơ Hòa - bác sĩ trưởng, người từng là y tá trong chiến trường, phải trải qua nỗi đau khủng khiếp cả thể xác và tinh thần nhưng bằng một nghị lực phi thường, bằng một đức tin mãnh liệt, người phụ nữ ấy đã vượt lên số phận để tiếp tục sống và làm những điều tốt đẹp cho cuộc đời; là xơ Lệ với một tâm hồn trong sáng, thánh thiện, tận tâm; là Lương Hải An, người giáo viên chính trực đã truyền được ngọn lửa tình yêu văn chương đến các em học sinh…

Làm nên sức hấp dẫn của “Hạc Hồng” còn bởi cách dẫn chuyện lôi cuốn của Lê Hoài Nam. Nhà văn đã kín đáo giấu đi nhiều tình tiết về lai lịch của các nhân vật. Càng đọc, ta càng bị cuốn vào nội dung câu chuyện, như một độc giả tò mò trên hành trình khám phá ý nghĩa của nhan đề tiểu thuyết và khám phá mối quan hệ giữa các nhân vật trong tác phẩm.

Phải gần đến đoạn kết thì người đọc mới hiểu được ý nghĩa của “Hạc Hồng”. Đó là một loài chim thiêng, là sứ giả của những điều tốt đẹp, hanh thông. Vì vậy, khép lại tiểu thuyết là niềm vui của xã Phương Điền khi được lắp đặt máy xử lý ô nhiễm môi trường nhờ công lớn của linh mục Dương Khắc Thiệu, là cuộc hội ngộ của những con người có mối quan hệ đặc biệt, là những tình cảm trong sáng, mới mẻ được nhen lên.

Dù cái kết của tiểu thuyết có phần nhẹ nhàng, đậm màu sắc nhân văn nhưng là một kết thúc mở, gợi nhiều suy ngẫm ở người đọc. Chứng tỏ nhà văn Lê Hoài Nam đã khai thác những mặt trái của đạo đức xã hội với mục đích là khơi gợi, thức tỉnh con người tránh xa cái xấu, cái thấp hèn, thiếu nhân cách để nuôi dưỡng, nâng đỡ, bồi đắp cái thiện vốn có trong mỗi con người và trong cuộc sống.

“Hạc Hồng” đã chĩa ngòi bút đấu tranh không khoan nhượng với những tiêu cực của xã hội, với những dấu hiệu suy thoái về đạo đức, không chỉ gợi ra sự căm ghét, không chỉ là nơi nhà văn trút bỏ ẩn ức, bức xúc của mình mà cao hơn, tác phẩm còn giúp công chúng nhận thức, tìm cách vượt qua cái xấu, cái bất công, phi lý bằng niềm tin sâu sắc vào những con người giữ vững được phẩm chất, cốt cách trong những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường.

Tôi tin tiểu thuyết “Hạc Hồng” sẽ được đông đảo bạn đọc đón nhận.

Hải Dương, tháng 1 năm 2019.

Nam Hồng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).