Tiếng thét - một mã văn hóa...!

Hầu như trong nền văn hóa nào cũng xuất hiện biểu tượng âm thanh tiếng thét, dĩ nhiên có nhiều hơn trong văn chương. Không chỉ là âm thanh, tiếng thét là ký hiệu, là một mã văn hóa ký gửi trong đó những bản sắc rất riêng của từng thời đại, từng vùng miền, thậm chí từng cá nhân. Chỉ xin được khái lược những nét cơ bản, tiêu biểu.

Ấn Độ huyền bí và linh thiêng là một trong những cái nôi sớm nhất của văn minh nhân loại. Đó là một đại dương mênh mông của thần thoại, huyền thoại, thần tích... Chỉ riêng sử thi “Mahabharata” với độ dài bằng 7 “Iliad” và “Ôdyssey” cộng lại có nhân vật trung tâm là các dũng sĩ rất tiêu biểu cho cá tính, tâm hồn Ấn Độ vị tha, bao dung, hòa giải. Là sử thi nên thi pháp hành động luôn được coi là điểm nhấn của các màn giao đấu kiêu hùng dữ dội.

Trên chiến trường Kurukshetra cả thảy 18 ngày có hàng chục dũng sĩ đánh nhau đều theo “quy trình” thành công thức: Hành động tự giới thiệu (diện mạo, vũ khí); Hành động hạ nhục đối phương (tư thế, lời thách, lời rủa...); Hành động thị uy sức mạnh (tiếng thét, múa đao, kiếm, giương cung...). Trận đánh giữa dũng sĩ Arjuna và Bhima thì tiếng thét như một sự kích thích, như gáo dầu đổ vào ngọn lửa sắp tàn làm cho nó bùng lên ác liệt hơn.

Số là Arjuna thấm mệt muốn tháo lui thì Bhima kiêu hãnh với mình mẩy đỏ lòm những máu mà thét lên một tiếng đắc thắng làm cho Arjuna bừng tỉnh mà lao vào huyết chiến mạnh mẽ hơn. Chính vì thế sử thi “Mahabharata” rất chú ý đến việc miêu tả những cơn giận của các dũng sĩ. Cơn giận càng lớn, càng bị nén lại tiếng thét bật ra càng to. Cơn giận dữ được coi là động cơ để dẫn tới mục đích trả thù. Sự trả thù bằng cách chém giết lại là một sự kích thích mới cho những trận giao tranh mới. Cơn giận nọ là nguồn cơn của trận đánh kia dẫn tới một trận đánh khác để “rửa nhục”. Kiểu kết cấu dây chuyền, sự kiện nọ nối sự kiện kia kết thành bộ sử thi đồ sộ vĩ đại, đặc sắc này.

Tiếng thét - một mã văn hóa...! -0
Một cảnh chiến trận trong “Mahabharata”.

Đặc trưng của mỗi trận giao đấu là nhân vật nào hầu như cũng thét lên không chỉ thách thức, làm nhục đối thủ bằng xương bằng thịt, còn là thách thức, làm nhục thần thánh vì mỗi dũng sĩ thường có vị thần bảo trợ. Ví như trận đánh giữa Bhima và Jarasandha kéo dài 13 ngày, khi Jarasandha kiệt sức thì “Bhima nhấc bổng đối thủ lên, quay tít đến một trăm vòng, ném phịch y xuống đất, túm lấy cẳng tước người y làm hai rồi thét lên mừng rỡ”. Chỉ vì tiếng thét ấy mà ngay sau đó hai nửa thân của Jarasandha bỗng chập làm một rồi một Jarasandha mạnh mẽ hơn sừng sững trên chiến địa...

Như vậy âm thanh của tiếng thét góp phần làm ra sự vang vọng của tác phẩm, không chỉ theo nghĩa đen, tạo ra không khí chiến trận, mà còn theo nghĩa bóng, tiếng thét ấy vọng ra mọi chân trời văn hóa mang theo âm hưởng tinh thần Ấn Độ đến với thế giới! Thế nên Ấn Độ làm phim về “Mahabharata”, chọn diễn viên dũng sĩ, ngoài ngoại hình thì “tiếng thét” là một tiêu chí cơ bản!

Không chỉ có ở “Mahabharata” mà hầu như ở mọi bộ sử thi đều có thi pháp âm thanh này. Với “Iliad” và “Ôdyssey”, các nhân vật dũng sĩ cũng đều mượn đến “tiếng thét” để hả cơn giận dữ hoặc để khiêu khích, hạ nhục hay hù dọa đối phương. Tên tác giả Hô-me có nguồn gốc từ chữ Hô-me-rốt nghĩa là người mù, rất có thể để chỉ nhiều người mù kiếm sống bằng cách đi kể rong về những câu chuyện đánh nhau. Họ phải kể như thật, giọng phải thật tốt, thật vang để khi cần cũng thét lên, mà gói trong tiếng thét ấy là biết bao những cung bậc tâm trạng: đau đớn, giận dữ, căm hờn, hả hê, giễu cợt,  khích bác...

Nhưng bước ra khỏi mảnh đất chiến trường của sử thi cổ đại để sang thời trung đại thì tiếng thét chỉ có ở nhân vật dũng sĩ với tính cách tương ứng. Vì nhân vật thần thoại chưa có sự phát triển tính cách, chỉ là đại diện cho phẩm chất nào đó. Phải mất hàng nghìn năm tiếng thét mới cụ thể hơn, mang sắc thái tính cách nhân vật rõ hơn.

“Tam quốc diễn nghĩa” của La Quán Trung - một trong “tứ đại kỳ thư” của Trung Quốc là một bộ tiểu thuyết lịch sử “bảy phần thực ba phần hư” với “tứ tuyệt”: tuyệt gian (Tào Tháo), tuyệt nhân (Lưu Bị), tuyệt nghĩa (Quan Công), tuyệt dũng (Trương Phi). Nhưng chỉ nhân vật Trương Phi là có tiếng thét. Quan Công đánh nhau cực giỏi, qua năm ải chém sáu tướng nhưng không dùng tiếng thét còn Trương Phi không đánh nhau vẫn thét, thậm chí tiếng thét ấy có sức mạnh đẩy lui hàng chục vạn quân. Trước sức mạnh quân Tào, phía Thục phải rút lui, đợi Lưu Bị cùng gia tướng đã sang sông, Trương Phi cùng vài chục quân sĩ làm hậu quân chặn địch.

Với ngoại hình dữ tợn, râu tóc dựng ngược, cưỡi tuấn mã Ô Chuy tay cầm xà mâu nặng hơn trăm cân như một anh hùng thiên sứ nhà Trời, Trương Phi đứng trấn giữ cầu Trường Bản. Giống như sử thi Ấn Độ, lời tự giới thiệu cũng là lời thách: “Ta là Trương Dực Đức người nước Yên đây, ai dám cùng ta quyết tử!”. Các tướng lĩnh tài ba của Tào Tháo không ai dám manh động. Bỗng Trương Phi thét lên, một tiếng thét dữ dội, thách thức, đe dọa mạnh mẽ, uy lực đến mức một tướng Tào là Hạ Hầu Kiệt vỡ mật ngã ngựa mà chết. Phân tích nhân vật Trương Phi không thể thiếu tiếng thét này, nó như một sản phẩm của tính tình nóng nảy, bộc trực, dũng cảm, gan dạ, sẵn sàng sống mái với kẻ thù...

Tiếng thét - một mã văn hóa...! -0
Tạo hình nhân vật Trương Phi trong phim “Tam Quốc diễn nghĩa”.

Trong không gian chiến trận đậm tinh thần sử thi tiếng thét luôn vọng hai chiều, không chỉ hướng về đối thủ, còn hướng về quân mình để khích lệ, để tăng thêm nhuệ khí. Thế nên trong các trận đánh không thể thiếu âm thanh tiếng trống, tiếng la, tiếng thét... của quân lính hai bên.

Nhưng không chỉ có ở sử thi, mà trong thể loại có không gian nghệ thuật gần như tĩnh lặng tuyệt đối, là thơ Thiền cũng có tiếng thét. Đó là trường hợp tiếng thét rất lạ trong “Ngôn hoài” của Không Lộ thiền sư: “Trạch đắc long xà địa khả cư/ Dã tình chung nhật lạc vô dư/ Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh/ Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư” (Mảnh đất long xà chọn được nơi/ Tình quê lai láng suốt ngày vui/ Có khi xông thẳng lên đầu núi/ Một tiếng kêu vang lạnh cả trời”. Tiếng thét này không chỉ vang vọng trong thơ Thiền Lý Trần như “một cảm hứng đạo học” hay một trạng thái “đốn ngộ” của sự giải thoát trực cảm tâm linh. Hơn thế, nó còn vang vọng vào cả bầu trời văn hóa trung đại như một lời đối thoại với hư vô, như một khát vọng phi thường vượt ra khỏi cái thông thường để hòa nhập vào tạo hóa. Đó là âm thanh làm bừng tỉnh vũ trụ!

Chuyển sang thời hiện đại, không chỉ tiếng thét mà âm thanh (nghệ thuật) nói chung lại chuyển hướng đi sâu vào thế giới nội cảm con người. Tiếng thét nhỏ dần, thậm chí bằng không. Đó là trường hợp nói về tiếng thét mà không có tiếng thét nhưng người đọc vẫn cảm thấy có, thậm chí còn dữ dội hơn nhiều tiếng thét vật lý.

Lỗ Tấn có tập “Gào thét” tập hợp 14 truyện ngắn đầu tay (viết từ 1918-1922) nhưng không truyện nào miêu tả âm thanh tiếng thét. Lỗ Tấn kể lại khi còn du học ở Nhật Bản thấy một người Trung Hoa bị trói nhưng rất đông người xem với vẻ mặt đần độn, vô cảm, ông mới thấy “điều chúng ta cần làm trước tiên là biến đổi tinh thần họ, theo tôi hồi đó, muốn biến đổi tinh thần họ, tất nhiên không gì bằng dùng văn nghệ”. Thế là ông “lao đầu vào việc tìm hiểu “quốc dân tính”.

Tháng 5-1918 ông có truyện ngắn “Nhật ký người điên” tuyên chiến chống lễ giáo đạo đức phong kiến, lên án lịch sử “ăn thịt người”. Trong truyện ngắn “Thuốc” lạnh lùng kể câu chuyện lấy bánh bao tẩm máu người, hơn nữa là máu người cách mạng, “lấy về còn nóng hôi hổi, ăn cũng còn nóng hôi hổi” để chữa bệnh lao, “cam đoan thế nào cũng khỏi”…

Thì ra một khi con người ta sa vào tình trạng ngu muội thì cũng không có nhân tính, càng không thể biết đến chân lý khoa học, chưa nói đến chuyện “làm cách mạng”. “Cố hương” cũng là căn bệnh nhưng là căn bệnh an phận thủ thường, “mũ ni che tai”,... cũng nguy hiểm không kém vì nó nhốt con người vào nhà tù của sự bàng quan, ích kỷ, u mê. Nổi bật là “A.Q chính truyện” phê phán đau đớn căn bệnh chủ nghĩa thất bại đã đầu độc “quốc dân tính” của người Trung Quốc.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, đằng sau “gào thét” là tiếng hát lạc điệu của dân tộc Trung Hoa được Lỗ Tấn “thét” lên để “cảnh tỉnh quốc dân” đang mê ngủ. Nhưng hiểu theo nghĩa “gào thét” thì tập truyện cũng đúng là tiếng thét xót xa, đau đớn cho số phận cả một dân tộc đang ngơ ngác trong bóng đêm. Đó là tiếng thét báo hiệu cần một sự đổi thay triệt để, tiếng thét thức tỉnh cả một thời đại. Cổ nhân có câu: “Thử thời vô thanh thắng hữu thanh” phải chăng là để chỉ những trường hợp này!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).