Tiếng sấm vọng mọi chân trời văn hóa!

Hồi thứ 21 của “Tam quốc diễn nghĩa” có tên “Tào Tháo uống rượu luận anh hùng” được coi là một trong những chương đoạn đặc sắc nhất của một trong “tứ đại kỳ thư”. Lúc bấy giờ anh em Lưu Bị đang nương nhờ Tào Tháo - một kẻ đa nghi, quỷ quyệt nên phải ém mình chờ thời. Tháo biết nhưng muốn thử Lưu Bị “tầm cỡ” thế nào bèn làm một cuộc rượu để “luận anh hùng”.

Lưu Bị kể ra năm vị kiệt xuất có thể thay đổi thiên hạ là Viên Thuật, Viên Thiệu, Lưu Biểu, Tôn Sách, Lưu Chương. Tháo bày tỏ: “Anh hùng là người trong bụng có chí lớn, có mưu cao, có tài bao trùm được cả vũ trụ, có khát vọng nuốt cả trời đất”. Nhìn thẳng vào mắt Bị, Tháo khẳng định: “Anh hùng trong thiên hạ ngày nay chỉ có sứ quân với Tháo này mà thôi!”.

Hoảng hốt vì bị nói đúng con người thật, Lưu Bị đánh rơi cả đũa. Đúng lúc ấy một tiếng sấm rền vang. Chớp lấy cơ hội, Lưu Bị nói như để “thanh minh”: “Gớm thật! Tiếng sét dữ quá”. Nghĩa là Lưu Bị đổ vấy cho việc đánh rơi đũa là do tiếng sét. Nếu không, ông ta cầm chắc cái chết vì Tháo đã nhìn thấu ruột gan. Câu nói “chữa thẹn” của Bị: “Đức Thánh ngày xưa gặp lúc sấm dữ gió to cũng đổi sắc mặt. Huống chi là tôi đây sao lại không sợ!” như “củng cố” thêm nhận định sai ở Tháo: Thì ra Bị cũng tầm thường thôi!

image001.jpg -0
Dớt - vị thần của bầu trời và sấm sét trong thần thoại Hy Lạp.

Tiếng sấm ấy do “Trời” ban cho!

Nếu hiểu tiếng sấm như một biểu hiện cho sự “giật mình” của bất cứ ai thì cũng đã phần nào nắm được ý đồ nghệ thuật xây dựng nhân vật của La Quán Trung. Nhưng có lẽ cần hiểu rộng hơn để thấy vấn đề sâu xa hơn thế. Đó là trong văn hóa Trung Hoa cổ xưa, tiếng sấm đã mang tính biểu tượng cho nỗi sợ hãi. Huyền sử kể hai người sản sinh ra sức mạnh sấm chớp là Lôi Công (sấm) và Điện Mẫu (chớp).

Lôi Công học nhiều phép thuật rồi cùng Khương Tử Nha phò giúp Chu Vũ Vương đánh bại Trụ Vương. Vì có pháp thuật cao cường, tính khí lại nóng nảy nên ông ta trở thành nỗi sợ hãi của nhiều người. Có thể hình tượng này đi vào Kinh Dịch mà quẻ Chấn là sự tương ứng với sấm sét tức sự rung chuyển của vũ trụ đem đến sự lo âu. Thế nên câu chữa thẹn kia của Lưu Bị là rất hiểu văn hóa và rất khôn ngoan: Đức Thánh còn sợ huống gì tôi!!!

Trong tín ngưỡng dân gian Nhật Bản, Raijin là vị thần sấm chớp. Vốn là một quý tộc, là thi nhân cũng là một nhà chính trị, sau khi chết hóa thân thành vị thần sấm chớp ngụ nơi trời cao. Đầu Raijin có sừng trâu, mặt quỷ, quấn khố da hổ, đeo sau lưng là dàn trống Taiko, khi phát ra sấm chớp thì dàn trống ấy kêu. Vì lẽ này hiện tượng sấm chớp là điềm lành, biểu hiện của no đủ, của hòa bình và cảm hứng cho các nhà thơ, nhất là cảm hứng về âm thanh.

Truyền thuyết cổ Ấn Độ coi vị thần tối cao Indra là người “quản lý” sấm sét. Là con của thần trời và thần đất, nhờ được uống rượu thần soma mà cao lớn khác thường và có sức mạnh khủng khiếp, đến nỗi làm cho bố mẹ cũng sợ hãi mà bỏ chạy. Vì chạy theo hai hướng ngược nhau thành ra trời và đất mới cách xa như ngày nay. Thế là Indra tự nhiên “vùng vẫy” khoảng không gian giữa, tức bầu trời. Lý giải việc hình thành vũ trụ nhưng truyện cho thấy hai ý nghĩa đi kèm: Thiêng hóa và sợ hãi thần sấm!

Thần thoại Hy Lạp thì coi thần Dớt cũng là thần sấm sét, là thần của các vị thần, thần của bầu trời tối cao. Thần thoại La Mã gọi thần sấm sét là Thor. Thần này quan trọng và cần thiết đến mức người ta lấy tên một ngày trong tuần dành cho thần. Ngày nay, ngày thứ Năm (Thursday) có gốc Latin tức “Ngày của Thor”. Trong thần thoại các nước Bắc Âu thì Thor là vị thần của sấm, giông bão và sức mạnh, được xếp hàng đầu trong các thần. Thần Thor cũng nổi tiếng là rất hay nổi nóng, ăn cực khỏe. Thor cũng là thần của nông dân luôn cưỡi trên một cỗ xe được kéo bởi hai con dê đực. Vũ khí của Thor là cây búa sét Mjollnir, khi phóng ra sẽ tạo sấm sét.

Người da đỏ lấy tên Thunderbird đặt tên cho vị thần sấm sét. Cái tên này được thiêng hóa bằng cách khắc lên các cây cột tổ trong nghi thức cầu mưa. Theo truyền thuyết, Thunderbird là con chim khổng lồ cai quản bầu trời và tạo ra sấm sét bằng cách vỗ cánh thật mạnh (!).

image003.jpg -0
Thần Sấm Indra trong truyền thuyết Ấn Độ.

Ở vùng sa mạc thì sấm sét rất kinh hoàng, dữ dội nên văn hóa Ai Cập coi sét là vị thần của sa mạc, bão tố và bạo lực. Thần này rất ác, giết chết anh trai (thần Osiris) để giành quyền cai trị Ai Cập…

Có một điểm mang tính mẫu số chung giữa các nền văn hóa (kể cả ác cảm cũng như thiện cảm) là thần sấm sét luôn mang tính biểu tượng hai mặt vừa khai tử vừa tái sinh, vừa sợ hãi vừa kính nể, vừa ghét, vừa yêu... Vì đơn giản là sét đánh gây tai họa, làm sợ hãi rồi mang mưa to gió lớn đến gây lụt lội nhưng đang hạn hán mà có tiếng sấm tức báo hiệu sắp mưa thì lại đem đến sự may mắn, niềm vui mừng.

Với văn hóa Việt thì trong biểu tượng tiếng sấm có một quan niệm khá hài hòa, uyển chuyển... Thần Sấm của ta vừa thiêng liêng, cao xa vừa gần gũi, đời thường. Trong hệ thống “tứ pháp” (Pháp Vân – Thần Mây; Pháp Vũ – Thần Mưa; Pháp Lôi – Thần Sấm; Pháp Điện – Thần Chớp) tuy là thần (thiêng) nhưng đều được thờ ở các chùa Bà dân giã (như Pháp Lôi thờ ở chùa Bà Tướng). Trong cổ tích, truyền thuyết, truyện Nôm... Thiên Lôi là biểu tượng của công lý. Thằng Lý Thông tàn ác nên bị Thiên Lôi cho một lưỡi tầm sét rồi hóa kiếp thành con bọ hung. Truyện Nôm “Phạm Công - Cúc Hoa” có kẻ bạc ác bất nhân là Tào Thị được cho về quê quán, cũng như Lý Thông bị Thiên Lôi đánh chết!

Nhưng Thần Sấm cũng bị “tầm thường hóa”. Chả là vì tính tình nóng nảy lại mải chơi nên nhiều khi Trời sai việc này lại làm việc khác, có khi đánh lầm cả người lương thiện. Thế nên có lần thần bị anh nông dân lừa bằng cách đổ chất nhờn lên mái nhà. Thiên Lôi ta hung hăng cầm búa xuống định “trừng phạt” nên bị trượt chân ngã, thế là bị anh nông dân nọ đánh cho một trận đau nên thân! Thì ra có là người trời, có vũ khí, có sức mạnh nhưng vẫn chịu thua anh nhà quê Việt mưu trí, dũng cảm...

Với quan niệm của nền văn minh nông nghiệp nên nhiều thần thoại của dân tộc Việt coi gà trống là tướng Nhà Trời có nhiệm vụ trừng phạt Thiên Lôi vì tội trái lời. Lần ấy Trời bắt Thiên Lôi chịu phạt phải nằm im ở một góc rừng để thỉnh thoảng gà đến mổ một cái thật đau. Đến khi thoát tội Thiên Lôi còn giật mình sợ hãi khi nghe thấy tiếng gà. Từ đó dân gian nuôi gà trống để dọa sét...!!!

Là người nông dân, ai cũng biết câu ca dao: “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ/ Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”. Lúa chiêm gieo vào tháng giêng, gặt vào khoảng tháng năm, tháng sáu âm lịch. Khoảng tháng 3 mùa mưa bắt đầu, có tiếng sấm, tức có mưa, lúa sẽ tốt nhanh. Thế là lúa thì “phất cờ”, còn người – tác giả dân gian thì “mở cờ” trong bụng, cảm ơn trời đất, cảm ơn sấm mưa!

“Truyện Kiều” có 4 lần tiếng sấm xuất hiện hầu như cùng nghĩa của dân gian. Mụ quản gia khuyên Kiều: “Kẻo khi sấm sét bất kỳ/ Con ong cái kiến kêu gì được oan” (câu 1757, 1758). Từ Hải nổi giận: “Từ công nghe nói thủy chung/ Bất bình nổi trận đùng đùng sấm vang” (câu 2296, 2297). Kiều biết ơn Từ Hải: “Trộm nhờ sấm sét ra tay/ Tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi” (câu 2423, 2424). Từ Hải có uy vũ của sấm sét: “Thừa cơ trúc chẻ ngói tan/ Binh uy từ ấy sấm ran ra ngoài” (câu 2439, 2440). Chỉ nhìn từ góc độ chữ này cũng cho thấy Từ Hải là biểu tượng của sức mạnh, công lý!

Nhìn chung mã văn hóa tiếng sấm là biểu trưng cho uy lực, sức mạnh, sự thay đổi bất ngờ... Với tư cách một hình tượng nghệ thuật tiếng sấm vọng cả vào văn học hiện đại. Nhưng có lẽ sự ám ảnh bởi tư duy biểu tượng truyền thống mà nhiều khi bị hiểu thiên lệch, gán ghép đẩy ý nghĩa hình tượng đi quá xa. Ví như bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh. Thi phẩm là sự cảm nhận tinh tế về bước đi của thời gian trong sự thay đổi không gian cuối hạ đầu thu: “Bỗng nhận ra hương ổi/ Phả vào trong gió se”. Sương thu mơ màng giăng mắc: “Sương chùng chình qua ngõ/ Hình như thu đã về”. Mây hờ hững vô tư: “Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu”. Có tiếng sấm vừa đủ nghe: “Sấm cũng bớt bất ngờ/ Trên hàng cây đứng tuổi”. Đây chỉ là tiếng sấm tự nhiên nhưng rất nhiều sách (cả sách giáo viên) lại hiểu theo nghĩa biểu tượng chỉ “bão táp, giông gió cuộc đời” mà con người trải qua, thì phải chăng là suy diễn, áp đặt (?!).

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).