“Tiến sĩ” hay “lùi sĩ”

Sách "Nguyễn Sinh Sắc, cụ Phó bảng xứ Nghệ, một nhân cách lớn" của tác giả Trần Nhu do NXB Văn Học ấn hành năm 2015, viết về cuộc đời nhà nho yêu nước Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ khi ra đời (1862) tại Nghệ An cho đến lúc cụ qua đời tại Đồng Tháp (1929).

Đọc suốt lượt cuốn sách, tôi không thể hiểu nổi đây là tác phẩm nghiên cứu lịch sử hay sáng tác văn học vì đó là một mớ hổ lốn, pha tạp. Tác giả viết về một nhân vật lịch sử nhưng sai sót rất nhiều về sự kiện lịch sử, gán ghép vào đấy sự cảm nhận chủ quan của mình, nhiều chỗ hư cấu theo kiểu tiểu thuyết, chưa kể nhiều đoạn tác giả "bê" cả giáo trình triết học cổ điển Trung Quốc vào.

Khoảng non  200 trang in nhưng có gần 60 chỗ sai, nhầm, thậm chí có nhiều chỗ tác giả sai kiến thức lịch sử rất sơ đẳng. Khi viết về phong trào kháng Pháp do vua Hàm Nghi khởi xướng sau khi cuộc phản công ở kinh đô Huế bị thất bại, tác giả đã nhầm lẫn rất ngô nghê: "Trong Nam, ngoài Bắc, miền Trung nơi nơi hưởng ứng phong trào cứu nước Văn Thân và sau đó là phong trào Cần Vương" (tr.16). Sự thật phong trào Văn Thân hoặc Cần Vương là một: Cuộc kháng chiến của toàn dân "tận lực vì vua" (Cần Vương) và do tầng lớp "trí thức sĩ phu Nho học lãnh đạo" (Văn Thân), nên gọi là phong trào Cần Vương hoặc Văn Thân đều đúng (tên gọi phong trào Cần Vương phổ biến hơn). Và phong trào Cần Vương chỉ diễn ra ở các tỉnh từ Trung Kỳ trở ra Bắc Kỳ mà thôi.

Một cuốn sách có nhiều sai sót nghiêm trọng.
Một cuốn sách có nhiều sai sót nghiêm trọng.

Tác giả viết về hoạt động của nhà yêu nước Phan Bội Châu đầu thế kỷ XX có đoạn: "Phan tiên sinh sáng lập Phong trào Duy Tân, chủ trương Đông Du" (tr.36). Năm 1904, Phan Bội Châu lập tổ chức Duy Tân hội và khởi xướng phong trào Đông Du, còn phong trào Duy Tân là do Phan Châu Trinh và các nhà nho tiến bộ phát động từ năm 1905 xuất phát từ Quảng Nam. Có lẽ do thiếu hiểu biết nên tác giả nhầm tưởng Duy Tân hội và phong trào Duy Tân là một tổ chức vì giống nhau ở chữ Duy Tân (!?)

Tác giả cũng thể hiện sự thiếu hiểu biết về giáo dục, khoa cử thời nhà Nguyễn ở thế kỷ XIX nên viết: "Khi ông Hoàng Xuân Cận lên chức Kép thì ông Nguyễn Văn Giáp đã là ông Mền (Thời ấy quy định đỗ Tú Tài lần thứ hai thì được lấy chức Kép; đỗ lần thứ ba nhận chức Mền và đỗ lần bốn được nhận chức Đụp). Ông Mền Hoàng Xuân Cận và ông Đụp Nguyễn Văn Giáp đều bị ách lại ở bảng Ất khoa Mậu Thân (1848), không đủ điều kiện để được dự kỳ thi cao hơn - thi Hội giành học vị Cử nhân" (tr.53).

Cử nhân và Tú tài là học vị ở khoa thi Hương được tổ chức tại các địa phương, người nào đỗ cả 4 kỳ là Cử nhân, 3 kỳ là Tú tài; còn thi Hội là khoa thi cấp quốc gia được tổ chức tại kinh đô Huế cho những người đã đỗ cử nhân tham dự để chọn tiến sĩ, phó bảng, chứ không phải "thi Hội giành học vị Cử nhân" như tác giả nhầm tưởng. Kép - Mền - Đụp là danh xưng dân gian để chỉ những người thi đỗ hai, ba, bốn lần Tú tài chứ không phải là chức vụ trong bộ máy nhà nước, cho nên tác giả dùng từ "lên chức Kép", "nhận chức Mền"… nghe thật... buồn cười.

Có những đoạn tác giả viết bừa bãi, không đúng sự thật, như: "Tại khoá thi Hương năm Giáp Ngọ (1894), Nguyễn Sinh Sắc đỗ cử nhân (kỳ thi này có 2000 thí sinh dự thi. Có 22 nho sinh đỗ cử nhân, trong đó Nam Đàn đậu 8 người, đứng đầu bảng là Nguyễn Sinh Sắc)" (tr. 62). Theo sách "Quốc Triều Hương Khoa Lục" của Thượng thư Cao Xuân Dục thì khoa thi Hương tại trường Nghệ năm Giáp Ngọ (1894), lấy đỗ 22 cử nhân, người đỗ Giải nguyên (Cử nhân Thủ khoa) là Hoàng Mậu - quê ở huyện Quỳnh Lưu; 8 người ở huyện Nam Đàn đỗ cử nhân, trong đó cụ Nguyễn Sinh Sắc được xếp thứ 12/22 trong số cử nhân tân khoa chứ không phải "đứng đầu bảng" như tác giả cường điệu.

Ở trang 63, tác giả tiếp tục phóng bút vô tội vạ: "Vào giữa thập niên 90 thế kỷ XIX, cụ Đào Tấn lần thứ hai được bổ chức Tổng đốc An Tĩnh. Dịp này ông Tổng đốc giàu lòng nhân ái và là người chính trực, đã nhận lời của Nguyễn Sinh Sắc cứu xét giúp Phan Văn San (tức Phan Bội Châu là bạn cùng quê thân thiết của vợ chồng Hoàng Thị Loan - Nguyễn Sinh Sắc) gỡ vụ phạm quy trong kỳ thi Hương ở xứ Nghệ cho nên bị án "chung thân bất đắc ứng thí" để tiếp tục dự kỳ thi Hương tại Nghệ An và kết quả được như ý!". 

Điều dễ thấy là tác giả chả hiểu gì về lịch sử. Tổng đốc Đào Tấn chỉ là người đứng đầu một địa phương thì làm sao có đủ thẩm quyền để xoá án "chung thân bất đắc ứng thí" cho Phan Bội Châu? Sự thật lịch sử là  năm 1897, sau khi bị án oan, Phan Bội Châu vào Huế làm gia sư để kiếm sống và tìm cách gỡ cái án này. Ở Huế, Phan thường lui tới nhà người bạn đồng hương xứ Nghệ là Phó bảng Đặng Nguyên Cẩn đang làm việc ở Quốc sử quán.

Nghe danh tiếng của Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền - thời gian này cũng đang làm việc tại Quốc sử quán - Phan Bội Châu muốn Đặng Nguyên Cẩn giới thiệu, nhưng thấy bạn vẫn còn là một ông đồ bình thường, chưa có khoa danh nên Đặng Nguyên Cẩn có ý ngần ngại và khuyên chờ dịp khác. Dịp may đến: Trường Quốc Tử Giám ra đầu đề bài phú về sự tích "lạy đá" cho giám sinh làm, Đặng Nguyên Cẩn đem về đưa Phan. Phan làm bài phú "Bái thạch vi huynh" (lạy đá tôn làm anh). Đặng Nguyên Cẩn đưa cho Nguyễn Thượng Hiền xem.

Lăng mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc ở thành phố Cao Lãnh.
Lăng mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc ở thành phố Cao Lãnh.

Bài phú quá hay, Nguyễn Thượng Hiền thích thú trao cho một số trí thức khoa bảng đang làm quan tại kinh đô đọc và đi tìm gặp Phan Bội Châu để làm quen. Sau đó, Nguyễn Thượng Hiền, Khiếu Năng Tĩnh (Tiến sĩ - Tế tửu Quốc Tử Giám) và một số trí thức danh tiếng khác cùng làm đơn gửi lên vua Thành Thái về trường hợp oan uổng của Phan Bội Châu. Vua Thành Thái xem xét đơn và đã tuyên bố xoá bỏ bản án cho Phan Bội Châu. Phan Bội Châu trở về quê và thi đỗ Giải nguyên tại trường Hương Nghệ An năm Canh Tý (1900).

Ở trang 73, tác giả, ngô nghê không kém: "…chúng dựng lên ông vua bù nhìn, lấy niên hiệu Đồng Khánh (1885-1888) như con rối của chúng làm cho nhân dân quá chán chường. Tiếp theo chúng phế Đồng Khánh như thay áo, đưa vua mới lên ngôi lấy niên hiệu Thành Thái (1888-1907). Ông vua này có tinh thần yêu nước, không cúi đầu nghe theo bọn giặc cai trị, do đó chúng gắn cho ngài mắc bệnh thần kinh và phế truất như ném một con vật thừa (rồi đưa con thứ hai Thành Thái lên ngôi, đặt niên hiệu Duy Tân, mà nhất định không chấp nhận hoàng tử Vĩnh San vốn rất có tinh thần dân tộc, chống ngoại xâm cai trị)". Sự thật lịch sử: Vua Đồng Khánh chết vào cuối năm 1888 chứ không phải bị phế truất, vua Duy Tân chính là hoàng tử Vĩnh San chứ không phải hai người khác nhau như sự nhầm tưởng của tác giả.

Thiếu kiến thức, pha vào những đoạn hư cấu, bịa đặt và hơn nữa là những đoạn xuyên tạc sự thật lịch sử, như: "Năm 1867, Phan Thanh Giản vốn là quan đầu triều nhà Nguyễn đương thời, vượt mặt cả ông vua hèn yếu (Tự Đức) ký văn bản dâng nốt ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ cho thực dân Pháp (An Giang - Hà Tiên - Vĩnh Long)" (tr.116). Năm 1867, người Pháp đã lừa Phan Thanh Giản để chiếm thành Vĩnh Long một cách chóng vánh, dễ dàng, sau đó chiếm nốt An Giang và Hà Tiên; chứ làm gì có chuyện cụ Phan "ký văn bản dâng nốt ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ cho thực dân Pháp" như tác giả đã viết.

Viết về Hà Nội, có lẽ tác giả là người duy nhất từ trước đến nay cho rằng: "...xứ Đông Đô mà Nguyễn Ánh - Gia Long đã chấp hành lệnh của Toàn quyền Pháp đổi thành thành Hà Nội" (tr.177). Theo sử sách thì năm 1831-1832, vua Minh Mệnh cho sửa đổi lại đơn vị hành chính trên cả nước; ở Bắc bộ đã bãi bỏ trấn Bắc thành và chia làm nhiều tỉnh. Lỵ sở Bắc thành (mà mỗi giai đoạn lịch sử có các tên gọi khác nhau: Tống Bình, Đại La, Thăng Long, Đông Đô, Đông Quan…) được đặt tên mới là Hà Nội. Thật là oan cho vua Gia Long và cũng thật khôi hài: Thời gian này nước nhà còn độc lập thì làm sao có viên Toàn quyền Pháp ngự trị ở Việt Nam (?)

Cuốn sách có quá nhiều sai sót, giá trị học thuật yếu kém. Tác giả đã thể hiện sự thiếu kiến thức lịch sử ở mức sơ đẳng, vậy mà thấy trong sách giới thiệu là "Tiến Sĩ" thì thật ngạc nhiên quá; theo thiển ý của tôi - người viết bài này - phải gọi tác giả là "Lùi Sĩ" có lẽ đúng hơn.

Phú Trường

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).