“Thuyền” - mở ra những vết thương cho ánh sáng đi vào

Trong một chia sẻ trên Facebook cá nhân, nhà văn - nhà phê bình Ngô Văn Giá hào hứng thông báo cuốn tiểu thuyết "Thuyền" vừa ra mắt của nhà văn - nhà thơ - bác sĩ Nguyễn Đức Tùng chuẩn bị được tái bản, ông đặt câu hỏi: “Tại sao "Thuyền" lại có sức hút mạnh mẽ đối với bạn đọc như vậy? Hẳn vẫn còn là một bí ẩn đối với chúng ta”.

Cá nhân tôi thấy câu trả lời khá giản dị: bởi vì "Thuyền" đạt tới Chân - Thiện - Mỹ một cách đích thực. Trong khi những giá trị ấy dần bị che khuất bởi các tiêu chí thời thượng như “Mới”, “Độc lạ” hay “Tính thời sự”, thì "Thuyền" cho chúng ta một cái nhìn hồi nguyên - một sự trở lại sâu sắc với bản chất lay động của văn chương chân chính.

Tính chân thực của tác phẩm mạnh mẽ tới nỗi, nhiều người nói rằng họ không ngủ được sau khi đọc "Thuyền". Đọc cuốn sách mà có cảm giác như người viết là một bác sĩ tỉnh táo, không run tay dao, mổ xẻ chính mình.

Bằng một cách nào đó, người thanh niên ra đi trên chiếc thuyền năm ấy đã vượt thoát được những cơn bão, đói, mất nước, bệnh tật, chứng kiến người quyên sinh, chứng kiến những toán cướp biển hãm hiếp, bắt đi và rồi sẽ bán vào nhà thổ những người yêu, vợ, con gái của những người đàn ông trên thuyền, những đứa trẻ con bị ném xuống nước, thủy táng, trại tị nạn với muôn vàn câu chuyện bi thảm tới rùng rợn… đã-sống-sót.

Bằng cách nào đó anh ta đã vượt thoát được những cơn trầm cảm, ký ức nhai đi nhai lại như một cái đĩa than bị xước vấp siết vào tim óc, để sống sót và thoát khỏi những nỗi ám ảnh đau đớn.

“Thuyền” - mở ra những vết thương cho ánh sáng đi vào -0
Tác giả Nguyễn Đức Tùng và độc giả tại buổi ra mắt tiểu thuyết “Thuyền”, NXB Phụ nữ Việt Nam.

"Thuyền", đối với tôi không hẳn là một cuốn tiểu thuyết, nó là một cuốn hồi ký được lai tạo với tiểu thuyết bởi một nhà thơ. Nói như nhà thơ-nhà văn Thái Hạo thì "Thuyền" là một bài thơ lớn. Tính ẩn dụ của nó rất cao. Bạn sẽ luôn luôn bắt gặp những đoạn “thơ văn xuôi” như một nhịp nghỉ trầm lắng tạo điểm nhấn trong khi câu chuyện đang kể đầy kịch tính. Ví dụ, đoạn sau đây được viết khi nhân vật chính cảm nhận được một cơn bão sẽ tới, hiểm nguy và hầu như chẳng còn chút sức lực nào để có thể chống chọi nữa:

Khi tôi chết, gió sẽ không còn thổi nữa.
Khi tôi chết, mọi đau khổ chấm dứt.
Sự tra tấn chấm dứt. Sự đói khát chấm dứt. Sự nhục nhã chấm dứt.
Khi chúng tôi chết, đừng hỏi vì sao chúng tôi đến đây
Khi chúng tôi chết biển động sẽ im, bầu trời xanh trở lại
(tr.153).

Đối với tôi đoạn thơ văn xuôi này cứa vào óc tim tôi nỗi day dứt về sự lãng quên, một sự lãng quên khi quá khứ chưa được mổ xẻ, phơi bày, một sự lãng quên không mang lại bình an mà mang tới những ám ảnh về cái chết. Bởi khi loài người chưa học kỹ, chưa ghi nhớ thì trên thế giới này chiến tranh vẫn lặp lại, hận thù và định kiến vẫn lặp lại, thờ ơ lặp lại, hèn nhát và sợ hãi lặp lại, dối trá lặp lại, các bài diễn văn và các chủ thuyết lặp lại…

Lịch sử thế giới vẫn đã, đang và sẽ lặp đi lặp lại. 140 con người trên chiếc thuyền của Nguyễn Đức Tùng năm xưa, hàng triệu người bỏ nước mà đi, chết cũng đi, gặp hải tặc cũng đi, rồi bị phơi thây cho cá mập, bị lăng nhục, hàng triệu người phụ nữ bị lạm dụng thân thể, bị bán vào nhà thổ, mất ngôn ngữ, mất tất cả... Nhưng tất cả những bi kịch thê thảm ấy rồi sẽ biến mất khỏi mặt đất này, “biển động sẽ im, bầu trời xanh trở lại” nhường chỗ cho sự có mặt của sự sống, hạnh phúc, bình an?

Đừng hỏi làm gì trước sự vô nghĩa đến tàn khốc của số phận những thuyền nhân trên biển. Quá khứ được khép lại không rõ ràng, không đối diện với sự thật như thế là rất có thể sẽ mưng mủ, biến thành độc tố.

Nguyễn Đức Tùng đã dùng con chữ của mình để tái tạo lại quá khứ một cách chân thực nhất đúng như nó từng là. Và bằng cái Đẹp của ngôn từ ông đã mang đến cái Chân, không để linh hồn bị chết trong nhục nhã và đau thương xưa kia bị biến mất không dấu vết. Ông giải phẫu lịch sử bằng ánh sáng của một trái tim từ bi, một trí tuệ mẫn cảm, sáng suốt, dịu dàng, nhẫn nại. Từng chút một, ông hồi sinh cho những linh hồn đã chết oan.

…Làm sao để yêu được thế giới này sau tất cả những đau khổ?
Nhìn vào bản chất của sự mất mát…
(tr.83-84).

Cả cuốn tiểu thuyết về thuyền nhân tị nạn sau chiến tranh không có một chữ nào nhắc đến “hòa hợp, hòa giải”, không có một chữ nào nhắc đến “thắng, thua”, đến ngộ nhận, sai lầm... Ông chỉ nói về đức tin, một đức tin không phải vào lý tưởng mà là đức tin vào ánh sáng giải thoát đầy minh triết. Ở đoạn mấy con người sống sót trên con thuyền tơi tả bỗng nhìn thấy ngọn lửa giàn khoan, dấu hiệu họ sẽ được cứu thoát, Nguyễn Đức Tùng viết:

Sự sáng, sao mà lâu đến thế.
Một người nào nói: tháp đốt lửa trên giàn khoan.
Vì sao người ta rời bỏ lòng tin vào thế giới?
Không. Bạn không rời bỏ nó. Nó rời bỏ bạn.
Đôi khi em thấy em cầu nguyện trong một giấc mơ.
Đó là sự may mắn.
Sự may mắn không dùng được vào việc gì.
Không phải. Sự may mắn chờ chúng ta ở đó, như kho tàng châu ngọc được cất giữ, có lúc cần tới.
Nhưng người tìm thấy chúng không phải là chúng ta.
Không. Một người khác
(tr. 153).

Có thể bạn không May mắn. Một người Khác. Đoạn thơ văn xuôi này có tính kết nối với câu chuyện trở đi trở lại trong "Thuyền" - câu chuyện về loài bướm, một hóa giải minh triết và nhân ái tính vô nghĩa của những cái chết, những thảm kịch, những sai lầm. Nguyễn Đức Tùng viết: “Tất cả sự mất mát nói cho cùng là sự hy sinh của kẻ đi trước lót đường, mở đường máu cho đồng loại”.

“Thuyền” - mở ra những vết thương cho ánh sáng đi vào -1
Trang bìa cuốn tiểu thuyết của tác giả Nguyễn Đức Tùng.

Có thể nói rằng, nhân vật chính đã sống sót là nhờ may mắn, nhưng không tự sát hay hóa điên là nhờ ở trong anh ta có tình yêu, một tình yêu từ bi, nhân ái rất lớn đối với một con người cụ thể, với mọi người và vạn vật xung quanh… Chính là nhờ ở tình yêu mà Nguyễn Đức Tùng có khả năng hóa giải hận thù, nhìn thấy cái Thiện tận cùng ở nơi cái Ác tận cùng đã diễn ra, nhìn thấy Ý nghĩa ở nơi sự Vô nghĩa tận cùng đã cho ông thấy.

Và sự ra đời của "Thuyền" phải trải qua thời gian rất lâu, một hành trình riêng tư chỉ ông biết. Cũng giống như người mẹ trẻ thương yêu và bảo vệ đứa con sinh ra từ nhiều lần bị hải tặc hãm hiếp, Nguyễn Đức Tùng cho tôi nhìn thấy, bằng cách nào mà Tình yêu vượt lên trên được Hận thù, hóa giải hận thù.

Số phận đã “ban tặng” cho Nguyễn Đức Tùng những “cơ hội” đau thương đến tận cùng, nhiều lần đẩy ông đến trạng thái cận tử, và chính ở những vết thương lớn ấy ông đã được ánh sáng của sự giác ngộ soi rọi.

Và như thế, theo như nhìn nhận của tôi, nếu có một cái gì đó gọi là “bí ẩn” như lời của nhà văn Ngô Văn Giá, khiến cho "Thuyền" có được sức thuyết phục và lay động lớn đối với đông đảo người đọc thì chính là ở tâm thế và nhân cách của người viết. Đau thương mất mát, độ lùi của thời gian, sự chín muồi của trí tuệ và tinh thần đã trao tặng cho Nguyễn Đức Tùng sự thông thái, nhân văn khả năng dùng con chữ tái hiện một sự thật thuần khiết (see the reality as it is), đã được thanh tẩy định kiến, oán hận - cái Chân được chuyển hóa thành cái Thiện trong "Thuyền", bằng cách như vậy.

Quyết định chuyển thể loại từ hồi ký sang tiểu thuyết cũng là một quyết định sáng suốt của nhà văn Nguyễn Đức Tùng. Vì chỉ với thể loại này ông mới có thể diễn tả được sự thật hơn cả sự thật. Không cần đao to búa lớn, ông cho người đọc vừa đứng ở trên vai ông, vừa đi vào trong tâm thức ông để nhìn thấy Sự thật toàn tính của Vũ trụ. Tác phẩm của ông vì thế có sức đánh thức lương tri, thôi thúc con người đặt ra những câu hỏi lớn về quá khứ, về phẩm giá và tự do, về ý nghĩa của cuộc sống - và cả những gì lịch sử từng bị che khuất.

Đó là sự hòa giải thầm lặng - không từ lý tưởng, mà từ lòng từ bi, từ ánh sáng của đức tin vào lương tri con người. Và như thế, "Thuyền" không phải là một “hiện tượng văn học”, mà là một thông điệp nhân văn - một ẩn dụ sâu sắc của sự tha thứ, hòa giải và cứu rỗi.

"Thuyền" không cần phải “làm mình khác biệt” để tạo ấn tượng. Nó chinh phục bạn đọc bằng vẻ đẹp thuần khiết của văn chương khi không bị nhuốm các ý đồ thị trường, không phô trương kỹ thuật, không chiều theo độc giả - dù là phía bên này hay phía bên kia.

Một cuốn sách như vậy - tôi nghĩ - chỉ có thể được viết ra bởi một con người đã đi qua những mất mát rất thật, đã vượt qua những đêm đen rất dài, đã ở bên bờ vực tuyệt vọng mà không lao xuống, đã tha thứ được cho người khác và cho chính mình.

Và người đó, đã chọn kể lại - bằng tất cả lòng từ ái và tinh thần trách nhiệm của mình.

Hàm Anh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).