Thuyền Kagor và hành trình về bến vĩnh cửu

Lễ bỏ mả là một tập tục có ý nghĩa hết sức quan trọng trong đời sống tâm linh của người Raglai ở tỉnh Khánh Hòa được truyền thừa, gìn giữ cho đến ngày nay. Và, trong lễ bỏ mả không thể thiếu thuyền Kagor. Đây là một công trình nghệ thuật, kiến trúc độc đáo và cũng lắm công phu của đồng bào Raglai dành cho người đã khuất.

Đặc sắc lễ bỏ mả của người Raglai

Từ điều kiện cư trú, thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng đất đai, lao động sản xuất, người Raglai đã tạo cho mình một bản sắc văn hóa độc đáo, riêng biệt mà không dị biệt. Các nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng, qua khảo sát không gian văn hóa Raglai ở tỉnh Khánh Hòa, từ hệ thống các nghi lễ đến văn hóa tổ chức đời sống cá nhân, đời sống cộng đồng đều thể hiện khá rõ nét về nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc xây dựng gắn liền với đời sống tinh thần, nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng "đa thần" của đồng bào.

Người Raglai ở tỉnh Khánh Hòa quan niệm, có hai thế giới song song tồn tại là thế giới của người sống và thế giới của những người đã khuất. Khi người chết đã được chôn cất, vẫn còn mối quan hệ với người đang sống, bởi linh hồn của người chết vẫn còn lẩn khuất trong cõi nhân gian nên phải làm lễ bỏ mả để chính thức chấm dứt mối quan hệ này. Đây là nghi lễ quan trọng nhất trong các nghi lễ vòng đời của người Raglai - lễ chia tay vĩnh viễn giữa người sống và người chết.

Sau khi làm xong các nghi lễ cúng bái, chôn cất cho người đã mất, đợi ngày lành tháng tốt, người Raglai sẽ làm lễ bỏ mả, thường thì vào tháng 3, tháng 4 dương lịch. Đồng bào quan niệm, trong lúc sống, con người dù có hiền lành hay hung dữ, thật thà hay gian ngoa hoặc sống không phải đạo làm người với dân làng, với cha mẹ, vợ chồng, anh em trong gia đình thì khi chết đều được làm lễ bỏ mả chu đáo. Đây chính là tính nhân văn độc đáo trong một lễ hội mang đậm nét truyền thống của người Raglai.

Thuyền Kagor và hành trình về bến vĩnh cửu -0
Nghi thức cúng tại nhà mồ trong lễ bỏ mả của người Raglai ở Khánh Hòa.

Những lễ vật và vật dụng được dùng trong lễ bỏ mả thường được gia đình người quá cố chuẩn bị trước hàng tháng như: dựng nhà mồ, làm thuyền Kagor, chuẩn bị heo, gà, rượu cần… Theo đó, nhà mồ Raglai truyền thống được làm với mái bằng tranh, mây; có bốn cột được chọn lựa và đẽo gọt, chạm khắc hoa văn, họa tiết theo dạng khấc tròn, vặn tròn, đối xứng, thường hai cột tròn và hai cột vuông; các màu chủ lực là đen, trắng, đỏ, tím, lam, vàng. Người Raglai vốn gắn bó, thân thiện với thiên nhiên nên họ chọn chất liệu chính từ vỏ cây, lá và các loại củ, quả, dây leo, với tro… để pha trộn, chế tác chất liệu.

Thuyền Kagor được làm bằng chất liệu cũng giống như nhà mồ. Thuyền nhỏ nhất khoảng 50cm x 70cm x 80cm hoặc lớn hơn gấp đôi tùy quy mô ngôi nhà mồ và điều kiện gia chủ. Thông thường, trên thuyền luôn có nhà cửa tượng trưng, ngôi giữa cao hơn hai ngôi hai bên. Nghệ nhân gọt giũa, tạo hoa văn hình rồng uốn chầu trên đỉnh các ngôi nhà đối xứng tâm. Bên dưới là tạo hình hàng rào, chim chóc, cá, các sản vật, các dụng cụ như dao, rìu...

Lễ bỏ mả thường được tiến hành trong ba ngày. Quy mô của lễ bỏ mả thường tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của gia đình, dòng tộc người chết. Nghi thức tùy theo từng vùng đôi khi cũng có những nét đại đồng tiểu dị nhưng những lễ thức chính thì không có gì khác biệt. Trong lễ bỏ mả, các hình thức nghệ thuật dân gian được truyền thừa từ nhiều thế hệ như nghệ thuật chạm khắc gỗ (cột nhà mồ, thuyền Kagor), nghệ thuật trình diễn (múa, âm nhạc) đã phản ánh thật sắc nét sự sáng tạo của đồng bào Raglai.

Sau lễ bỏ mả, linh hồn người chết hoàn toàn tách khỏi mọi ràng buộc của người sống. Người chết thật sự đi đến "quê hương mới" của mình, còn người sống được "giải phóng" thoát khỏi mọi liên hệ với người chết. Nói cách khác, lúc này người chết chuyển sang trạng thái sống khác, không liên hệ gì với người thân nữa. Do vậy, người Raglai không có tục thờ cúng, giỗ chạp hay làm bàn thờ người chết sau lễ bỏ mả.

Lễ bỏ mả là một tập tục có ý nghĩa hết sức quan trọng trong đời sống tâm linh của từng người Raglai. Tuy là lễ của một gia đình nhưng vẫn được xem là ngày lễ chung của dòng tộc và của cả cộng đồng, nó thể hiện sự gắn bó, trách nhiệm, tình thương của người Raglai. Vì thế, đến nay lễ bỏ mả vẫn được cộng đồng người Raglai ở Khánh Hòa truyền thừa, gìn giữ và đang tồn tại trong đời sống.

Trầm tích biển trong văn hóa rừng

Trong lễ bỏ mả của người Raglai ở Khánh Hòa không thể thiếu thuyền Kagor. Thuyền không phải là phương tiện giao thông, càng không phải mô hình trang trí, mà là một công trình nghệ thuật, kiến trúc độc đáo và cũng lắm công phu của đồng bào Raglai dành cho người đã khuất. Thuyền Kagor là biểu tượng tài sản tượng trưng cho sự giàu sang phú quý mà người sống làm để tặng cho người chết, với ước mong người chết sẽ được sống sung sướng, đầy đủ như mong ước chung của người Raglai.

Thuyền Kagor và hành trình về bến vĩnh cửu -0
Nghi thức cúng thuyền Kagor tại nhà người chết trong lễ bỏ mả của người Raglai ở Khánh Hòa.

Quá trình diễn ra lễ bỏ mả, thuyền Kagor được cúng tại nhà người chết, sau đó mới khiêng rước đến nhà mồ. Tại đây, người chủ lễ tiếp tục nghi thức cúng và khấn vái trước thuyền Kagor. Sau đó, những trai tráng chưa có vợ trong làng sẽ khiêng thuyền gắn lên nóc nhà mồ. Khi đưa lên nóc nhà mồ, người thân của người quá cố phải "đập heo", "đập gà", "bốc rượu cần" để cúng thuyền Kagor.

Theo các nhà nghiên cứu, văn hóa Raglai mang đậm hơi thở của biển, dấu ấn đặc thù sót lại đó là thuyền Kagor. Với người Raglai, thuyền Kagor là linh vật được đúc kết, chọn lọc từ tinh hoa, sản vật của núi rừng, biển cả…

Người Raglai sớm xuất hiện cùng với sự vận động, phát triển, sinh tồn song hành với dân tộc Chăm trên đất Khánh Hòa và duyên hải Nam Trung bộ. Ở tỉnh Khánh Hòa, người Raglai sống tập trung chủ yếu ở các huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh, Cam Lâm và TP. Cam Ranh. Đồng thời là một trong 5 tộc người thuộc ngữ hệ Mã Lai - Nam Đảo (Chăm, Raglai, Churu, Êđê, Jarai). Đây là dấu hiệu đầu tiên cho thấy họ có nguồn gốc thủy tổ sinh cư ven biển.

Yếu tố biển hiện rõ trong từng câu chữ của truyện cổ, truyền thuyết, sử thi, làn điệu dân ca, lời nói vần, câu đố, hiện thân chính nhân vật của truyện, các sự kiện chống lại thiên tai địch họa… Thuyền Kagor là vật chất còn sót lại sau hàng nghìn thế hệ, dấu ấn về biển trong tâm thức của cư dân Raglai còn đọng lại sâu kín, thầm lặng mà thăng hoa.

"Nếu rừng là toàn bộ văn hóa Raglai hiện tại thì biển hầu như là toàn bộ văn hóa Raglai trong quá khứ. Về nguồn gốc, có nhiều giả thiết cho rằng họ vốn là cư dân bản địa, chủ nhân lâu đời ở khu vực duyên hải Nam Trung bộ trước khi người Chăm đặt chân đến đây. Người Chăm phát triển và xây dựng vương quốc Chămpa hùng mạnh khiến người Raglai phải rút dần lên vùng núi cao để sinh tồn. Cùng với thời gian, những giá trị văn hóa biển trở thành trầm tích trong văn hóa của người Raglai", nhà nghiên cứu văn hóa Trần Kiêm Hoàng (ở tỉnh Khánh Hòa) cho biết.

Trải qua suốt chiều dài lịch sử, dân tộc Raglai từ buổi sơ khai đến nay vẫn giữ được nét văn hóa cho riêng mình. Lễ bỏ mả của đồng bào thể hiện tình cảm, trách nhiệm của người sống với người đã khất. Đồng thời là dịp thể hiện sự đền đáp công lao tổ tiên, ông bà, cha mẹ và còn là biểu hiện của tình cảm làng xóm gắn kết bền chặt, thể hiện văn hóa ứng xử tốt đẹp giữa con người với con người. Trong đó, thuyền Kagor là một biểu tượng không chỉ đông đặc phạm trù tập quán xã hội, tín ngưỡng "đa thần", sùng bái các đấng siêu nhiên, kính trọng, biết ơn ông bà thủy tổ, mà còn hiện rõ tính nhân văn, nhân sinh quan sâu đậm.

Ông Lê Văn Hoa - Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Khánh Hòa, cho biết: "Lễ bỏ mả của người Raglai mang đậm màu sắc văn hóa dân gian, vừa tích hợp các giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống vừa thể hiện sự gắn kết cộng đồng. Qua đó, thấy được tính nhân văn, tính giáo dục qua việc thực hiện làm thuyền Kagor trên nóc nhà mồ. Ở tỉnh Khánh Hòa, lễ bỏ mả của người Raglai ở huyện Khánh Sơn đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia năm 2012, thuộc loại hình tập quán xã hội và tín ngưỡng".

Phan Thuận Phin

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.