Thử phản biện về "trí khôn"...!

Câu chuyện cổ “Trí khôn của ta đây!” được đưa vào giảng dạy trong trường phổ thông với mục đích giáo dục ca ngợi “trí khôn” của con người.

Truyện kể một con cọp từ trong rừng ra thấy cảnh anh nông dân cùng con trâu cày ruộng. Trâu chăm chỉ cặm cụi nặng nhọc đi từng bước thế mà thỉnh thoảng còn bị quất một roi vào mông. Cọp rất ngạc nhiên, tại sao trâu to lớn thế mà lại  phải chịu đựng sự khổ sở trước con người bé nhỏ kia. Đợi lúc nghỉ trưa, cọp lân la đến hỏi trâu để biết lý do vì sao vậy. Trâu trả lời là do người có trí khôn. Cọp rất tò mò không hiểu trí khôn là gì. Trâu cũng không biết giải thích thế nào cho phải đành nói cọp đến hỏi người cho xem “trí khôn”.

Người nói rằng trí khôn để ở nhà, cọp cần xem để về lấy. Như sực nhớ ra điều gì, người nói khi về lỡ cọp ăn mất trâu thì sao. Cọp đang băn khoăn chưa biết phân trần ra sao thì người nói cọp chịu khó để người trói lại cho yên tâm. Cọp đồng ý, người bèn lấy dây thừng trói cọp chặt vào một gốc cây rồi chất rơm rạ chung quanh. Người châm lửa đốt và quát: “Trí khôn của ta đây! Trí khôn của ta đây!”. Lửa cháy xém lông, cố hết sức vùng vẫy, mãi khi dây thừng đứt, cọp mới vùng chạy thoát vào rừng. Thấy cọp bị đốt, trâu thích quá lăn ra cười không may hàm trên va vào đá, răng gãy không còn cái nào. Mang trên mình những vằn đen loang lổ, từ đó cọp rất sợ lửa.

Thử phản biện về
Trí khôn của ta đây!

Đây đích thực là một truyện cổ tích về loài vật nên còn một cái tên khác đích đáng hơn là “Sự tích về vằn lông loài hổ”. Hầu hết các sách hướng dẫn giảng dạy, tham khảo hay bình giảng đều khẳng định truyện “là một bài học sâu sắc” và ca ngợi: “Trí khôn là niềm tự hào của con người, chứng tỏ sự vượt trội của con người so với các giống loài khác như cọp. Tuy nhỏ bé nhưng nhờ có trí khôn nên con người đã thống trị được những loài mạnh và hung hãn nhất”. Nhìn từ góc độ thể loại cổ tích thì cách hiểu trên là có thể chấp nhận.

Nhưng có cách hiểu đi quá xa, trượt ra ngoài cấu trúc đặc trưng hình tượng thì sự gán ghép là rất rõ.

Có sách “phân tích”: “Hổ giả vờ tử tế hỏi thăm nhưng người nông dân với trí khôn đã nhanh chóng nhận ra bản chất gian ác của nó. Không có người bảo vệ việc ăn thịt trâu chỉ còn là chuyện nhỏ. Khôn ngoan chính là sự cảnh giác với những thứ mang vẻ ngoài tử tế. Con đường tìm kiếm trí khôn phải trải qua nhiều chông gai, thử thách, khó khăn giống như hổ phải trải qua cơn thiêu đốt của lửa để khôn ra vậy. Muốn có trí khôn phải vượt khó mà học hỏi...”.

Thứ nhất, không có một chi tiết nào về ngoại hình, hành động, suy nghĩ của hổ là “giả vờ tử tế” mà ngược lại nó băn khoăn thật nên đi hỏi trâu. Tin trâu, nó đi hỏi người. Chứng tỏ nó thật thà đến ngốc nghếch! Hai là, đưa ra lời bình “Không có người bảo vệ việc ăn thịt trâu chỉ còn là chuyện nhỏ” là vi phạm đặc trưng thể loại với nhân vật cổ tích luôn được nhân cách hóa mang tư cách con người, nói năng, suy nghĩ, hành động bình đẳng như nhau. Nên “sợ” việc hổ “ăn thịt trâu” là vượt ra ngoài “tư duy cổ tích”.

Có sách còn “hướng dẫn”: “Nên cho các bé học tập và rèn luyện trí khôn để có thể đoán được những ý đồ xấu đằng sau những cử chỉ tử tế của kẻ xấu. Khi đã có trí khôn rồi thì có thể ứng phó với các tình huống hiểm nguy khó khăn”. Thế giới cổ tích là thế giới trẻ thơ hồn nhiên, nếu đưa cái sự “rèn luyện trí khôn” như vậy sẽ triệt tiêu cái mơ ước bay bổng ở trẻ được sống trong thế giới trong sáng, thân thiện, bình đẳng, ở hiền gặp lành...

Có ý kiến tách nhân vật ra khỏi “không gian cổ tích” rồi quá thiên về chức năng giáo dục: “Trâu là người bạn hiền lành của nhà nông còn hổ là con vật hung ác, kẻ thù của người. Vì hổ là đại diện cho cái ác nên phải bị trừng phạt. Do vậy phải giải thích rõ cho trẻ hiểu ngày xưa ông bà ta đã phải đấu tranh với thiên nhiên dữ tợn đến mức nào”. Nếu bắt trẻ phải học thế thì “quá tải”, bài học trở nên nặng nề, cái tinh thần chính của cổ tích là giải thích đặc trưng loài của các con vật bị lướt qua.

Phân tích, bình giảng truyện cổ dân gian phải bám sát vào đặc trưng, ví như tư duy cổ tích là tư duy phi thời gian, thời gian ở đó như ngưng đọng nên qua hàng trăm năm cốc rượu uống dở (trong truyện “Nàng công chúa ngủ trong rừng”) vẫn còn nguyên (chứ không bay hơi theo quy luật vật lý). Nhân vật cổ tích chưa cần tư duy, chưa “khôn” nên cô Tấm bị Cám nói trên đầu có cứt trâu nên tin ngay mà không cần “thẩm định” đúng hay sai, là bùn hay cứt trâu thật (!?). Không gian cổ tích không có vật cản nên nhân vật biến hóa thoắt chỗ này thoắt chỗ kia và các loài vật mới gần gũi để “đối thoại” một cách tự nhiên.

Thử phản biện về
Trong cổ tích, muôn loài thân thiện và bình đẳng!

Trở lại truyện “Trí khôn của ta đây!” ta thấy có ba nhân vật đều tham gia vào tình huống “trí khôn là gì”. Vì gần gũi nên trâu biết dùng từ/khái niệm (trí khôn) của người chính xác nhưng không đủ “trí khôn” để giải thích ngọn ngành nghĩa của từ/khái niệm. Thì ra kẻ “khôn”, ngoài sự biết còn phải hiểu nữa để có thể cắt nghĩa một cách rõ ràng cho kẻ khác hiểu. Từ “rừng” xuống nên cọp ngạc nhiên, tò mò về “chuyện thường ngày” ở vùng đồng bằng là chuyện đi cày của người và trâu. Người có “trí khôn” nên lừa trói cọp rồi đốt lửa cho nó biết một bài học “trí khôn” không chỉ riêng nó nhớ đời và còn để cả loài cọp phải nhớ...

Truyện cũng là một ngụ ngôn trọn vẹn, sâu sắc, nhiều ẩn ý đúng với nghĩa định nghĩa của thể loại là “gửi gắm (ngụ) những lời hay lẽ phải (ngôn) - là những kinh nghiệm sống, những bài học luân lý đạo đức, về xử thế...”. Là loài hung dữ, bị ghét lại từ “rừng” xuống nên cọp bị “rơi” vào hai trạng thái cả hai phía chủ quan và khách quan: vừa ngốc nghếch vừa bị cảnh giác. Từ nhân vật cọp này có thể rút ra các ý: từ nơi xa đến, vì lạ lẫm phong tục, tập quán sống nên phải biết giấu cái ngốc, cái thiếu hiểu biết của mình bằng cách cố tự quan sát, tìm hiểu và suy ngẫm. Đừng như cọp thật thà đem cái băn khoăn tò mò của mình “chia sẻ” với kẻ khác, dù kẻ đó “ngu như trâu/bò” thì cũng dễ nhận hậu quả!

Từ nhân vật người có thể có các ý sau: Kẻ có “trí khôn” là kẻ biết điều khiển kẻ mạnh hơn làm theo ý mình. Kẻ khôn là kẻ “cắt nghĩa” cho kẻ khác hiểu bằng hành động chứ không cần bằng lời nói. Vì thế người mới dễ dàng lừa hổ là “trí khôn” để ở nhà. Đó còn là kẻ biết đánh tráo khái niệm, thậm chí thay đổi nội hàm khái niệm, biến cái trừu tượng, vô hình (trí khôn) thành cái hữu hình, cụ thể (để ở nhà). Tức “khôn” thật, nhưng liệu có đúng là “trí khôn” hay chỉ là sự “khôn vặt”, “khôn ranh” kiểu láu cá, lừa gạt...!? Thế nên truyện còn một tên gọi khác rất đúng với thể ngụ ngôn là “Chuyện của hổ, trâu và người”.

Truyện cũng mang đầy đủ tinh thần của thể truyện cười với kết cấu đặc trưng là kiến tạo tình huống gây cười, các mâu thuẫn và nhân vật gây cười để làm bật ra ý nghĩa. Hổ hung dữ sống trên rừng nay “xuống núi” thật thà ngờ nghệch. Tiếng cười bật ra: Ngốc nghếch thế thì bị lừa là đáng đời. Trâu thấy cảnh hổ bị lừa nên cười mà mất hàm trên. Kẻ vô cảm cười trước nỗi đau kẻ khác bị như vậy cũng đích đáng! Còn người? Hành động như vậy mà là “trí khôn” ư? Nếu “trí khôn” là “khả năng suy nghĩ và hiểu biết” thì hành động lừa một kẻ thật thà như vậy không phải “trí khôn”.

Tên truyện (“Trí khôn của ta đây!”) chính là sự nhại lại lời nhân vật cùng với nội dung truyện đã tạo nên một tiếng cười nhại sâu sắc bật ra từ sự tương phản, đối lập: Không nên lừa kẻ khác, hơn nữa lại lừa kẻ thật thà, ham hiểu biết thì chẳng xứng đáng chút nào. Từ hành động “đốt lửa” phi nhân tính cũng toát ra cái ý: Đã là con người không được đối xử nhẫn tâm với muôn loài. Đó là “tiếng cười hai chiều”: khai tử, tống tiễn cái khôn ranh, cái thiếu nhân tính...(nếu có), tái sinh, chào đón cái thân thiện, nhân văn của con người. Ý nghĩa phổ quát của truyện trí tuệ thâm thúy hơn nhiều nghĩa thông thường vẫn hiểu!!!

Do vậy, với trẻ em chỉ nên dạy ở phương diện truyện cổ tích đúng với tên truyện “Sự tích vằn lông loài hổ”!

Mỗi văn bản dân gian càng cổ xưa càng lắng đọng tích tụ trong nó bao lớp phù sa văn hóa theo cấu trúc đa/liên thể loại nên không có đáy. Càng bóc những lớp mã văn hóa càng tìm thấy những lõi ý nghĩa mới phát sáng. Chỉ là một cách hiểu xin được đối thoại với các phản biện khác! 

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).