Thử nhận diện thiền trong thơ Việt Nam đương đại

Thơ Thiền vốn có truyền thống lâu đời trong Văn học Việt Nam, từ thời Lý Trần, khi Phật giáo hưng thịnh với những tác giả tiêu biểu như Mãn Giác, Vạn Hạnh, Trần Nhân Tông, Huyền Quang… Mặc dù có những thăng trầm qua các thời kỳ lịch sử khác nhau nhưng nhìn chung thơ Thiền vẫn luôn luôn được duy trì và phát triển.

Ngày nay trong thơ, kệ của các Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Thích Thanh Từ, Minh Đức Triều Tâm Ảnh… những giá trị lâu dài của thơ Thiền vẫn đang được các Thiền sư kế tục và làm mới để phù hợp với đời sống hiện đại. 

Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết nhỏ này, chúng tôi chỉ đề cập đến yếu tố Thiền trong thơ của các nhà thơ, các tác giả đương đại (không phải Thiền sư hay tu sĩ Phật giáo), có thể tự giác hoặc không tự giác họ ảnh hưởng tư tưởng Thiền tông. Chúng tôi coi yếu tố Thiền như một thủ pháp để các tác giả thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình về bản ngã, về nhân sinh qua cảm quan Phật giáo.

Cố nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo trong một lần đến thăm nhà thơ tật nguyền Đỗ Trọng Khơi.
Cố nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo trong một lần đến thăm nhà thơ tật nguyền  Đỗ Trọng Khơi.

Trước tiên, xin đề cập đến yếu tố Thiền trong thơ của nhà thơ Đỗ Trọng Khơi- người con quê lúa Thái Bình. Đỗ Trọng Khơi sinh năm 1960, anh bị bạo bệnh từ rất sớm, đến năm tám tuổi thì đôi chân hoàn toàn không đi lại được, từ đó cuộc sống của nhà thơ gắn liền với chiếc giường. 

Mặc dù chỉ học hết lớp ba nhưng nhờ nghị lực, sự ham đọc, ham học cùng năng khiếu thiên bẩm, anh đã trở thành nhà thơ có phong cách độc đáo của quê hương năm tấn. Qua khảo sát mấy chục bài thơ của anh, chúng tôi thấy yếu tố Thiền rất đậm, đó là những quan niệm về bản ngã, về nhân sinh của một người am hiểu triết học Phật giáo. 

Dường như chính những tư tưởng Thiền đã giúp anh vượt qua bạo bệnh để sống một cuộc sống bình an, giúp anh có nghị lực để đối diện với cuộc đời đầy éo le, trắc trở: "Tôi tự chèo lái lấy tôi/ Con thuyền bào ảnh là tôi, hay là?../ là tôi thì tôi sẽ qua/ không là tôi cũng như là thế gian". 

Đọc đến đây tôi chợt nhớ đến bài kệ trong "Kinh Kim Cương" có viết: "Nhất thiết hữu vi pháp/ Như mộng, huyễn, bào, ảnh/ Như lộ diệc như điện/ Ưng tác như thị quán". Dịch nghĩa: "Tất cả pháp hữu vi/ Như mộng, huyễn, bọt, bóng/ Như sương, như chớp loé/ Hãy quán chiếu như thế". 

Bào ảnh chỉ bọt nước, cái bóng ý muốn nói cuộc đời thoáng chốc, Thiền sư Vạn Hạnh có câu: "Thân như điện ảnh hữu hoàn vô/ Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô", dịch nghĩa: "Thân như bóng chớp chiều tà/ Cỏ xuân tươi tốt thu qua rụng rời". 

"Cung oán ngâm khúc" có câu: "Sóng cồn cửa bể nhấp nhô, Chiếc thuyền bào ảnh lô xô gập ghềnh". 

Chỉ có điều Đỗ Trọng Khơi không vì sự thoáng chốc của cuộc đời mà buông xuôi, nhà thơ vẫn tỏ ý chí vượt qua, tự chèo lái lấy con thuyền cuộc đời mình. 

Nhà thơ cho rằng thân thoáng chốc cũng chính là món quà tặng của cuộc đời và khi đối diện với bản ngã của mình mà nhận ra bao sự luân chuyển vô thường để có cuộc đời an nhiên, tự tại vượt lên mọi mất mát, hơn thua: "Đời ta không kể ngắn dài/ tình ta bỏ lẽ đúng sai lại rồi/ trong bao la một ta ngồi/ một ta chơi với một người là ta/ Không hề trẻ, sao lại già/ không là lá, chẳng thành hoa, chẳng gì/ sinh ra là để mất đi/ mất đi là để ta về cõi ta/ Ta về ở ẩn trong ta/ tấm thân cát bụi như là... thế thôi" (Ta về cõi ta). 

Đỗ Trọng Khơi nhiều lần nhắc đến phù du, hư vinh, hư vô, vô thường nhưng dường như để tự nhắc mình sống bình thản, giữ được bản tính tốt lành giữa cuộc đời này: "Gặp làn mây trắng rong chơi/ như ai ru lại ta thời ấu thơ/ Ngợ hư vinh cãi phù du/ trong binh bong tiếng chuông chùa thu không" (Ngợ hư vinh cãi phù du). 

Mặc dù ý thức sự trôi chảy của thời gian: "Mà về thăm thẳm tâm linh/ lặng nghe tĩnh vắng xoá hình dáng ta/ Hư vô thảm thắc với tôi/ thời gian càng nắm càng rơi dọc đường" (Hư vô thảm thắc) nhưng vẫn giữ lòng an nhiên, vô vi, tức không làm gì trái quy luật tự nhiên. 

Không có sự thấu hiểu giáo lý nhà Phật, tinh thần Thiền tông chắc không thể có những câu thơ thể hiện cảm nhận sâu sắc về cuộc sống vốn vô thường này: "Vô vi trong cõi vô thường/ thì dâng máu lệ về nương cõi nào" (Nghĩ).

Tranh họa chân dung ẩn sĩ thi tăng Hàn San- nguồn Internet.n Nguyễn Quỳnh Anh
Tranh họa chân dung ẩn sĩ thi tăng Hàn San- nguồn Internet.n Nguyễn Quỳnh Anh

Nói đến yếu tố Thiền không đơn giản là nhắc đến tên các vị Phật, các bộ kinh, các thánh tích Phật giáo (Yên Tử, Hương Tích) mà thể hiện sự thấm nhuần các triết lý Thiền với những điều căn cốt nhất như sự tịnh lặng, an nhiên, coi nhẹ danh lợi để rồi bình tâm trước mọi biến chuyển của cuộc đời. 

Tác giả Nguyễn Thị Thùy Linh đã có những cảm nhận sâu sắc ấy: "Gió thiền trên ngọn phù đồ/ Áo nâu khua lá. Mặt hồ ngân chuông/ Cõi tâm tỏa bóng trầm hương/ Chổi lia mặt đất dọn đường tịnh không/ Thoát siêu về kiếp lửa hồng/ An nhiên xác lá ấm lòng phù sinh" (Quét chùa buổi sớm). 

Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến đứng trước tháp cổ mà trầm ngâm về hư danh, thế thái nhân tình, thời gian sẽ làm mòn mọi thứ, chỉ cái đẹp là còn mãi với thời gian: "Thời gian là người thợ/ Đẽo mòn bao hư danh/  Xin đá bia đừng kể/ Trước cỏ rêu vô hình/ Hiền nhân và bạo chúa/ Thành bụi đất cả rồi/ Phù điêu nung từ đất/ Chỉ tạc hình em thôi" (Phù điêu cổ). 

Sự tịnh lặng được nhà thơ Trần Thanh Kim trong một lần đến chốn tổ Vĩnh Nghiêm - ngôi cổ tự ở Bắc Giang có chứa kho mộc bản đã được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới đã có những cảm giác an nhiên dưới những bóng cây xanh mát, trong sự tịch mịch, vắng lặng: "Mộc bản đầy khai mở/ chữ khắc nhuần phận cây/ thời gian chìm thớ gỗ/ kiếp nhân sinh tỏ bày" (Ghi ở chùa Vĩnh Nghiêm). 

Trần Thanh Kim so sánh kiếp người với kiếp lau đề bày tỏ sự mong manh, thoáng chốc của kiếp người ở cõi Ta bà: "Kiếp lau ở chốn ta bà/ Thân như cát bụi hồn là mong manh" (Kiếp lau). 

Nhà thơ Tịnh Bình khi đứng trước thiên nhiên, tạo vật cũng có những cảm nhận an nhiên, tự tại khi trở về bản thể của mình:  "Đỉnh cô phong/ Mây tọa thiền tư lự/ Núi trầm ngâm/ Âm ba gió lời kinh/ Và hoa lá/ Tràng hạt sương kết chuỗi/ An nhiên ta/ Ngồi tựa chiếc bóng mình" (Ngồi).

Trong số các tác giả đương đại không thể không nhắc đến Trần Huy Minh Phương, một tác giả trẻ nhưng thấm nhuần tư tưởng triết học Phật giáo đặc biệt những giá trị căn cốt của tinh thần Thiền tông luôn được anh thể hiện trong rất nhiều sáng tác gần đây của mình. 

Trần Huy Minh Phương coi cuộc đời như một sàn diễn, trên đó con người đóng các vai rồi cũng hết đừng để tham lam, ích kỷ chi phối đến nghiệp của mình, mỗi người hãy sống cuộc đời chân thật, sống trọn với mình để được thăng hoa: "Trên sàn diễn cuộc đời, vai nào rồi cũng hết/ xấu tốt, thiện ác, phật ma, đại ngã vô ngã/ tùy vào sự chọn lựa của mình/ trang phục, phấn son rồi sẽ nhàu nhĩ và tì vết/ tham lam, ích kỷ - nghiệp đen đẩy luân hồi biền biệt/ sống thật với đời, sống trọn với mình cho nhân cách thăng hoa"

Có lúc trước hoa huệ trắng trong, Trần Huy Minh Phương cũng nghĩ đến cõi ta bà, nhịp thiền như để gột rửa lòng mình thanh tịnh, trở về bản ngã Chân như: "Rung rinh hương gọi nắng hồng/ mà nay từng búp rụng vòng chân nhang/ lời thơm như đã thật gần/ trút tâm sám hối tựa lần chia xa/ áo lam, tràng chuỗi thành hoa/ ta còn ôm cả ta bà ngả nghiêng/ huệ hương đã trút nhịp thiền/ mình vừa sụp lạy bóng mình đó thôi" (Chợt nghĩ bên hoa huệ).

Trên đây là một vài cảm nhận bước đầu của tôi về yếu tố Thiền trong thơ Việt Nam đương đại, để có những nhận diện, đánh giá sâu rộng và toàn diện hơn, thiết nghĩ cần có những cuộc hội thảo khoa học, những nghiên cứu chuyên sâu của các nhà nghiên cứu phê bình để từ đó chúng ta có thể đúc rút những kinh nghiệm, những bài học quý báu trong sáng tác và tiếp nhận.

Ninh Bình, ngày 20-10-2020

Nguyễn Quỳnh Anh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).