Thông điệp từ những lá thư viết bằng máu

Những bức thư ngả màu, những nét chữ mờ dần qua năm tháng, những trang giấy mỏng manh với màu mực sâm sẫm - thứ mực đặc biệt được rút ra từ huyết quản của những thanh niên Việt Nam yêu nước. Một cảm giác xúc động đến nghẹt thở khi tôi cầm trên tay những bức huyết thư. Mỗi chữ, mỗi dòng đều ngùn ngụt lửa căm thù giặc Mỹ, hừng hực khí thế quyết tâm chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc.

Càng đọc những tư liệu lịch sử quý giá ấy, tôi càng thêm hiểu vì sao cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của quân và dân ta đã làm nên ngày 30-4-1975.

Kho cất giữ đặc biệt

Ở Lai Xá, huyện Hoài Đức, Hà Nội có một kho lưu trữ đặc biệt bảo quản và cất giữ các di vật, hiện vật lịch sử của Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam. Để được tiếp cận với những hiện vật ấy, tôi phải thực hiện theo một quy trình chặt chẽ.

Các cán bộ của Phòng kiểm kê bảo quản của bảo tàng cho biết, mỗi hiện vật đều có hồ sơ lý lịch đầy đủ, kho phải đảm bảo duy trì nhiệt độ, độ ẩm nhất định, định kỳ được xử lý kỹ thuật. Đó là quy định, là nguyên tắc và cũng là cách để giữ gìn, bảo quản một cách tốt nhất hiện vật. Thông điệp của lịch sử hiện hữu trước mắt tôi – những bức huyết thư mỏng manh nhưng chứa đựng trong mình sức mạnh to lớn, đại diện cho tinh thần của cả một dân tộc kiên cường trước giặc ngoại xâm.

Nét chữ mềm mại, nắn nót, màu mực máu đã mờ trên trang giấy học trò: “Với bao tội ác tày trời của đế quốc Mỹ đang ngày đêm gieo rắc đau thương xuống làng mạc quê hương cũng như cả nước… Hình ảnh anh chị tôi ngã xuống trên mảnh đất quê hương để lại cho Tổ quốc 4 mầm non đang còn khờ dại… Tôi không thể nào ngồi nhìn giang sơn chìm đắm để vui hưởng hạnh phúc đến một cách dửng dưng…”. Cô học trò cấp 3 Trần Thị Phúc sinh ngày 29-11-1950 ở huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An đã viết như thế vào ngày 21-4-1968.

Huyết thư của đơn vị thông tin tỉnh Quảng Ngãi trưng bày trong Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam.
Huyết thư của đơn vị thông tin tỉnh Quảng Ngãi trưng bày trong Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam.

Khí thế cả nước ra trận hừng hực trong huyết quản của những chàng trai, cô gái trên khắp mọi miền Tổ quốc. Họ sẵn sàng làm bất cứ nhiệm vụ gì, miễn là được chiến đấu để trả nợ nước, thù nhà, đánh đuổi kẻ thù, thống nhất đất nước. Cao Thị Hòe ở xóm Phượng Thắng, xã Diễn Hoa, huyện Diễn Châu cũng là học sinh cấp 3 đã dùng huyết thư để bày tỏ nguyện vọng được góp sức mình cho cuộc chiến.

Cách viết chững chạc, nhận thức rõ ràng về cuộc chiến của dân tộc: “…nhiệm vụ cấp bách là phải đẩy mạnh cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại, kiên quyết chiến đấu đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ... Lúc này chống Mỹ là nhiệm vụ thiêng liêng của mỗi người dân Việt Nam yêu nước…”.

Phía sau bức thư, như để khẳng định quyết tâm xin đi chiến đấu có sự đồng lòng của cả gia đình là những dòng chữ của bố, mẹ cô học trò ấy. Cuối thư, ngoài chữ ký, tác giả còn ghi thêm số tuổi: 18, 19 như một lời khẳng định tôi đã đủ tuổi để chịu trách nhiệm trước sự lâm nguy của Tổ quốc, đủ tuổi để hiểu rõ lý tưởng mình đang theo đuổi và chịu trách nhiệm trước mỗi hành động của mình.

Nhiều người dù đã được đứng trong hàng ngũ quân nhân nhưng vì nhiều lý do khác nhau, họ phải làm nhiệm vụ ở tuyến sau, khó có thể tả được khát khao cháy bỏng được chiến đấu của những người lính ấy.

Ngày 5-9-1969, chỉ 2 ngày sau khi nhận tin Bác Hồ qua đời, một người lính đã cắn tay lấy máu viết bức quyết tâm thư trong ngập tràn cảm xúc đau thương: “Tên tôi: Lê Quang Thu 19 tuổi là chiến sỹ Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 88, Sư đoàn 308. Trong giờ phút lịch sử này, toàn dân tộc Việt Nam đau thương vô cùng… Tôi xác định rõ vị trí và nhiệm vụ của mình là lên đường vào Nam diệt Mỹ, dù khó khăn gian khổ không sờn lòng, hi sinh đổ máu không ngần ngại, noi gương Người hi sinh đến giọt máu cuối cùng cho cách mạng, cho Đảng… Tôi tha thiết đề nghị Đảng ủy thủ trưởng Trung đoàn xét duyệt cho tôi được đi chiến đấu ngay, đi bất cứ nơi nào tôi cũng sẵn sàng…”.

Nhiều bức huyết thư chỉ còn lại vết máu khô, bay màu theo thời gian, để đọc được tôi phải nhờ sự trợ giúp của cán bộ bảo tàng thông qua hồ sơ, biên bản về hiện vật được lập từ ngày mới sưu tầm.

Mỗi bức huyết thư được để trong một phong bao riêng. Có thể đó là giấy tập học sinh, cũng có thể là một tờ giấy được xé ra từ cuốn sổ tay được đóng bằng chỉ khâu. Thư viết bằng máu không bền màu như mực viết nhưng nó được viết ra từ tâm can của mỗi người dân yêu nước. Người viết thể hiện sự trân trọng trong từng con chữ. Có bức huyết thư được viết bằng ngòi bút, có bức được tạo nên bằng chính ngón tay tứa máu.

Để thêm một lần khẳng định lý tưởng của mình, anh thanh niên Trần Hữu Dước, 19 tuổi (Hợp tác xã Xuân Linh, xã Lĩnh Sơn, tỉnh Nghệ An) viết Đơn xin tình nguyện “được cầm súng đánh Mỹ càng sớm càng tốt” bằng máu với lá cờ đỏ sao vàng bên trong vòng tròn, bên dưới là dòng chữ: “Thề hi sinh cho Tổ quốc” .

Huyết thư của chiến sỹ Trần Hữu Dước.
Huyết thư của chiến sỹ Trần Hữu Dước.

Những câu chuyện phi thường phía sau hiện vật

Trong kho của Bảo tàng Lịch sử quân sự hiện có 3 bức huyết thư của 3 chiến sỹ thuộc Đại đội 9, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 24, Sư đoàn 304 thuộc Quân đoàn 2. Bức huyết thư được sưu tầm vào ngày 27-4-1978 tại Trung đoàn 24 trong số hàng trăm bản quyết tâm thư của chiến sỹ Đại đội 9 viết bằng máu xin trước khi bước vào chiến dịch tiêu diệt địch ở Thượng Đức, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam năm 1974.

Đồng chí Trần Quang Vinh quê ở Thái Bình sức khỏe loại 3, thường xuyên bị sốt rét nên đơn vị cho anh ở lại tuyến sau. Người cán bộ sưu tầm hiện vật dành những trang viết nắn nót để nói lên hoàn cảnh ra đời bức thư trong cuộc chiến khốc liệt: “Đơn vị chấp nhận cho đồng chí đi chiến đấu nhưng cho đồng chí làm nhiệm vụ vận tải đạn, gạo. Đồng chí đã đem hết sức mình gùi thồ gạo, đạn, đảm bảo tăng chuyến, tăng cân. Nhiều lần lên cơn sốt tới 39-40 độ nhưng đồng chí không chịu nghỉ… có lúc vác tới 80kg, góp phần cùng đơn vị vượt 300% chỉ tiêu.

Ngày 31-10-1974, Đại đội 9 được lệnh lên chốt ở A6 của cao điểm 1062, Trần Quang Vinh xung phong lên chốt, đồng đội bị thương vong, nhưng đồng chí quyết giữ chốt mặc dù bị thương nặng… Đi viện chưa lành vết thương đồng chí đã trở về tiếp tục xin đi đánh địch…”.

Đồng chí Mai Xuân Sinh người dân tộc thiểu số ở Yên Bái. Khi nghe tin bố mẹ già yếu đã mất, nhà cửa giao cho hợp tác xã, đơn vị xét hoàn cảnh cho đồng chí ở lại hậu cứ. Viết quyết tâm thư bằng máu mang lên đại đội nằn nì xin đi chiến đấu nhưng không được, Mai Xuân Sinh đã khóc và mang lên tiểu đoàn xin đi bằng được. Ngày 29-10-1974, trong trận chiến bảo vệ chốt 1062, anh bị thương nặng, đưa về tuyến sau.

Huyết thư của nữ sinh cấp 3 ở Nghệ An và các chiến sỹ Đại đội 9, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 24, Sư đoàn 304.
Huyết thư của nữ sinh cấp 3 ở Nghệ An và các chiến sỹ Đại đội 9, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 24, Sư đoàn 304.

Ngay sau khi tạm hồi phục, trên đầu vẫn quấn băng, anh lại xin trở về chiến đấu. Lúc này Đại đội 9 được giao nhiệm vụ đánh quân địch ở vùng B Đại Lộc. Đồng chí đã cùng đồng đội là Hà Xuân Tập tạo thành mũi thọc sâu vào đội hình địch, đánh phát triển, diệt nhiều địch cho đến khi hết đạn. 2 chiến sỹ chỉ còn 2 quả lựu đạn với 3 lạng gạo rang nằm suốt 10 ngày trong lòng địch. Ngày năm im ẩn mình trong lớp cỏ tranh, đêm lần mò tìm về đơn vị. 10 ngày sau, 2 anh trở về trước sự ngỡ ngàng của đơn vị và tiếp tục cùng đơn vị tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh.

Bản quyết tâm thư của đồng chí Vi Văn Ba vừa đúng một trang giấy ký ngày 25-9-1974, góc trang đã sờn, màu máu cũng đã phai đi nhiều. Anh cũng là một tấm gương kiên cường bảo vệ cao điểm, cùng đồng đội tiêu diệt nhiều tên địch trong trận đánh 9-3-1975. Anh đã được thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất. Họ là 3 trong nhiều tấm gương tiêu biểu của Đại đội 9, Trung đoàn 24, góp vào chiến thắng Thượng Đức, mở toang “cánh cửa thép” cho đại quân tiến về giải phóng Đà Nẵng, là cơ sở mở ra các chiến dịch lớn giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Được nâng niu trên tay hiện vật của một thời máu lửa, tôi đã hiểu được phần nào tình yêu Tổ quốc và tinh thần xả thân vì lý tưởng cao đẹp. Tinh thần ấy, khí thế ấy đã làm nên một Việt Nam khiến cả thế giới khâm phục, là niềm tự hào cho thế hệ sau.

Việt Hà

Các tin khác

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

Trong thời đại mạng xã hội bùng nổ, nơi mỗi cú nhấp chuột đều có thể biến thành tiền, không ít người đã bất chấp chuẩn mực đạo đức để sản xuất những đoạn clip dung tục, phản cảm, nhằm câu view và kéo khách hàng. Những “chiêu trò” này không chỉ làm ô nhiễm không gian mạng mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy nguy hiểm cho xã hội.

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Nhờ những chính sách của Đảng, Nhà nước cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, xã Yên Na (tỉnh Nghệ An) từng được coi là “điểm nóng” của ma túy giờ đã thay da đổi thịt, an ninh trật tự được đảm bảo. Người dân ở đây đã tham gia cùng chính quyền xây dựng đời sống mới, cuộc sống bình yên nép mình dưới chân núi Pu Phen.

Từ con đường độc lập đến khát vọng vươn mình

Từ con đường độc lập đến khát vọng vươn mình

“Việt Nam thành công không chỉ vì đạt được thành tựu đáng chú ý, mà còn vì đã tìm ra con đường xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn quốc gia”, Đại sứ Trung Quốc Hà Vĩ chia sẻ. Còn với Đại sứ Liên minh châu Âu Julien Guerrier, trong 30 năm qua, mỗi lần ông đến Việt Nam đều cảm nhận sự đổi thay và tiến bộ rõ rệt...