Thông điệp từ “Mộng đế vương”

Đọc hết những dòng chữ cuối cùng trong trang cuối cùng của cuốn tiểu thuyết "Mộng đế vương" của nhà văn Nguyễn Trường (Nhà xuất bản Phụ nữ tái bản năm 2019), tôi gấp sách lại và ngẫm ngợi...

Nhà văn Nguyễn Trường đã viết về một nhân vật dù không phải là “nhân vật lịch sử” nhưng  đó là “tham vọng của một “dân cậu” ở xứ quê đã thành truyền tích từ nhiều chục năm nay ở miền Tây Nam bộ nửa hư, nửa thực, vừa buồn cười vừa đáng thương, lại rất Việt Nam, là cái phía còn chìm trong bóng tối của người nông dân Việt Nam chưa được văn chương khai phá” (lời giới thiệu của nhà văn Nguyễn Khải).

Tôi ngờ rằng Nguyễn Trường khi đặt bút viết “Mộng đế vương” là khi ông đã nghĩ tới một “hình bóng” khác. Một hình bóng tuy không phải là nhân vật tiêu biểu hoặc nhân vật điển hình hay đơn giản chỉ là đại diện cho một thời kỳ, một vùng đất.

Theo suy nghĩ của tôi thì đó là “hình bóng” phản ánh một “góc khuất” trong con người miền Tây Nam bộ giữa thời buổi ly loạn và đầy rẫy những “tư tưởng”, đầy rẫy những tôn giáo, đầy rẫy những “ước nguyện” của nửa đầu thế kỷ hai mươi. Và chính trong cái “lần mò” ấy đã hình thành nên một nhân vật ban đầu ta tưởng đó là “Tham vọng vô bờ”, nhưng bình tâm nghĩ lại ta mới ớ ra vì đó chính là “Một sự ngộ nhận” hoang sơ hay nói một cách khác đó là “sự thiếu một tư tưởng nền móng”.

Ông Đạo Dừa, Nguyễn Thành Nam có phải là nhân vật vô học nên mông muội? Không. Bằng chứng là từ năm 1928 đến năm 1935, con người này đã từng sang Pháp du học. Học xong về nước hay chính xác hơn là trở về miền Tây sông nước vào nửa cuối thập niên ba mươi của thế kỷ hai mươi, Nguyễn Thành Nam “chìm vào” cái chất, cái tinh thần cùng cái hồn Nam bộ của giai đoạn lận đận và dường như bế tắc trong cuộc kiếm tìm đường đi.

Và trong “điều kiện” như vậy, điều kiện Nam bộ hồi nửa đầu thế kỷ hai mươi, đã ra đời một thứ tôn giáo gọi là “Đạo vừa vừa” mà sau này được biết nhiều với cái tên “Đạo Dừa”. Một thứ tôn giáo lẫn lộn giữa “hoang tưởng phong kiến” với những mê tín hoang sơ. Đó là sự mê hoặc những con người lao động chân chính để “dụ” họ, để “lôi kéo” họ, để đánh lạc hướng và để lợi dụng họ.

Bìa tác phẩm “Mộng Đế Vương” của nhà văn Nguyễn Trường.
Bìa tác phẩm “Mộng Đế Vương” của nhà văn Nguyễn Trường.

Người nông dân Nam bộ tự nhiên bị “phân hóa”, tự nhiên bị “chia nhỏ” và tự nhiên bị “làm yếu đi”. Tinh thần quật cường tranh đấu với thiên nhiên để tạo lập cuộc sống đã có hàng mấy trăm năm từ thuở ban đầu đi khai hoang lập địa đã phần nào bị “nguội cạn”. Người dân Nam bộ đã không còn tập hợp lại thành một đội ngũ đoàn kết, chung một mục tiêu, chung một lý tưởng nữa. Theo tôi đây mới là cái để “Đạo Dừa” ra đời, tồn tại và song hành với các tôn giáo, giáo phái khác đã có ở đây như Cao Đài, như Hòa Hảo.

Và một “vương quốc” Cồn Phụng với “cách nghĩ hoang tưởng” của mình khi thông qua lời kêu gọi “Người ơi! Việt Nam ơi! Đông Dương ơi! Muốn có hòa bình thống nhất Việt Nam và Đông Dương ngay tức thì áp dụng Hiệp định Giơnevơ năm 1954 theo kiểu Mõ neo Ba Lai của Nhơn thiên giáo chủ thích hòa bình Nam Nguyễn Thành, tự ông Đạo Dừa (vừa) sẵn có bảo đảm  gọi là giải pháp hòa bình thiên định theo hà đồ bát quái cẩn khắc trên lưng Long Mã” (trang 84) của Đạo Dừa mới nghe đã thấy ngay mơ hồ, thấy ngay một con đường đi mông muội.

Đó chính là sự thiếu niềm tin hay câu chuyện về một giai đoạn “khủng hoảng” tư tưởng giữa những hỗn mang thật dễ bề cho kẻ xâm lược, kẻ cai trị vội nắm lấy để lợi dụng. Tôi cho rằng “Đạo Dừa tồn tại với trên một triệu tín đồ trong suốt một thời gian dài từ sau 1945 đến 1975 không hẳn vì chủ nhân của nó, ông Đạo Dừa, Nguyễn Thành Nam là nhân vật đại diện cho người dân Nam bộ mà là nhân vật này với tôn giáo của mình đã “vô tình” đi vào “quỹ đạo của các thế lực xâm chiếm”.

Ngòi bút của nhà văn Nguyễn Trường đã “đụng” đến “một vùng tư tưởng và vùng lối sống” mà xưa nay văn học Việt Nam bỏ quên hoặc chưa đề cập đến kỹ càng, chưa nói rõ được về vùng đất và về con người Nam bộ.

Thường các tác phẩm văn học miền Nam và viết về miền Nam xưa nay chỉ nói đến một vùng đất dồi dào của cải, lối sống phóng túng, bản chất ngang tàng. Còn nói đến, viết đến vấn đề tôn giáo rất đa dạng, rất phức tạp ở miền Nam và nhất là tôn giáo ấy có thể là vô tình hoặc cũng có thể là hữu ý trở thành công cụ cai trị của chế độ thực dân cũ và mới thì hầu như chưa mấy đề cập tới. Ở tiểu thuyết “Mộng đế vương”, theo tôi  tác giả đã “đi vào” cái cốt lõi tâm hồn còn đầy ly tán, còn đầy phân vân của một bộ phận không nhỏ người dân Nam bộ.  

Ông Đạo Dừa Nguyễn Thành Nam có phải là nhân vật yêu nước? Không. Sau khi Đạo Dừa đã “ổn định” địa bàn của mình và có được một lượng không nhỏ tín đồ (một triệu tín đồ khi mà Nam bộ vào thời điểm trước 1975 chỉ rơi vào khoảng năm hay bảy triệu người) thì nói gì thì nói “ông chủ” của tôn giáo này không thể “thoát ly thực tế” được.

Thực tế mà ai cũng biết đó là cả nước ta, cả dân tộc ta đang trong cuộc chiến đấu giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Thực tế đó cho dù các tín đồ các tôn giáo có “mê muội” đến đâu đi chăng nữa thì họ cũng phải nhớ đến. Đơn giản vì cho dù là tín đồ của một tôn giáo nào đó nhưng họ vẫn là những công dân đang sống trong một đất nước có chiến tranh.

Và ông Đạo Dừa Nguyễn Thành Nam với sự “tự tin” đến “ngây thơ” của mình cộng với thái độ nhìn nhận huyền bí pha tự huyễn hoặc “Năm 1935 – 1945 về xứ lên Thất Sơn huyền bí tìm giải pháp hòa bình thiên định theo lý số âm dương “bất chiến bất bạo động”. Năm 1947 – 1972 làm hòa bình, từng vào tù khám song chẳng sờn lòng trì chí dung đạo đức thống nhất Việt Nam sống chung theo thiên cơ thiên định, thiên nhơn lãnh đạo “Thích ca hòa bình” (trang 110).

Với tư tưởng xa rời thực tế, ông Đạo Dừa Nguyễn Thành Nam đã có một “ngộ nhận” không hề nhỏ. Kiểu “đấu tranh kiến tạo hòa bình” theo kiểu “ru ngủ” hay trông chờ vào “lòng tốt” của kẻ xâm lược là một sai lầm mà chính các thế lực cai trị “tranh thủ” lợi dụng. Bằng chứng là chính quyền cai trị chỉ “giả vờ” gây áp lực theo kiểu mang tính “khuyến khích” hơn là răn đe đã càng làm cho ông Đạo Dừa Nguyễn Thành Nam ngộ nhận lại thêm ngộ nhận.

Ông Đạo Dừa đã lần nữa “vô tình” trở thành con bài chia rẽ khối đại đoàn kết đấu tranh của nhân dân Nam bộ, của chính quyền cai trị. Chính quyền cai trị còn giả đánh giá cao Đạo Dừa mà “bật đèn xanh” cho ông Đạo Dừa nẩy ra ý định “tranh cử Tổng thống”. Ai cũng biết và sau đó ông Đạo Dừa cũng biết việc bầu cử khi đó chỉ là trò “dân chủ giả hiệu”.

Sự ngộ nhận còn được Nguyễn Thành Nam hai lần “tự tin” có thể tự mình tìm đường ra Bắc gặp Cụ Hồ Chí Minh để “bàn về hòa bình”. Ngộ nhận hay lẫn lộn ý thức khi Đạo Dừa Nguyễn Thành Nam đưa ra “Một giải pháp hòa bình” thông qua đàm phán không thực chất và xa rời đấu tranh vũ trang giành độc lập thực sự là một âm mưu hòng làm “nản chí” trong nhân dân.

Đúng là chúng ta đã chiến đấu, đã đàm phán, và “Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam” đã được ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973, nhưng đó “là cuộc đấu tranh trên chiến trường kết hợp với đàm phán hòa bình” của nhân dân ta chứ kiểu “đàm phán trông chờ vào thái độ của kẻ xâm lược” thì hoàn toàn là thiếu thực tế. Và chắc là hiểu được điều đó nên chính quyền cai trị khi đó cho dù đang lợi dụng Đạo Dừa nhưng cũng chẳng ưa gì cái đạo “lạ lùng” nên cũng muốn mượn tay người khác để “thanh toán” ông chủ đạo ấy.

Dĩ nhiên chúng ta đều biết, cuộc chiến đấu kéo dài hàng mấy chục năm của nhân dân ta nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước cuối cùng cũng đến đích huy hoàng. Thắng lợi vẻ vang ngày 30 tháng 4 năm 1975 là thắng lợi của cuộc đấu tranh chính nghĩa, của khối đoàn kết toàn dân tộc, của tinh thần chiến đấu hy sinh dũng cảm của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Gấp “Mộng đế vương” lại tôi hình dung ra tác giả của cuốn sách đâu chỉ cho chúng ta biết về “cái phía còn chìm trong bóng tối của nông dân Nam bộ” mà đã cho ta một thông điệp sâu sắc “Muốn thành công phải dựa vào sức mình, dựa vào tư tưởng lành mạnh. Dựa vào thánh thần, dựa vào tâm linh, dựa vào mê tín chỉ có thể đưa ta tới chỗ thất bại mà thôi”.

Nguyễn Trọng Văn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).