Thời Trần - Tiếng cười "giải thiêng"!

Dưới ánh sáng của mỹ học hiện đại người ta càng thấy rõ hơn tiếng cười gắn liền với chủ thể hướng về đối tượng cái đáng cười bên ngoài, khách thể. Là một biểu hiệu rõ nhất của tính người cũng đồng thời là nhiệt kế chính trị của xã hội, tiếng cười vang lên ở đủ các cung bậc hài hước, mỉa mai, chế giễu cái ác, cái xấu,…

Đầu thời Trần, Nho và Phật cùng tham gia quản lý xã hội, cùng được trọng dụng ngang nhau. Sách “Thiền uyển tập anh” trích câu nói nhà sư Viên Chiếu: “Trú tắc kim ô chiếu/ Dạ lai ngọc thỏ minh” (Ngày thì mặt trời soi, đêm thì mặt trăng sáng), ý nói cả Nho - Phật đều là ánh sáng soi chiếu nhân quần. Ở thời thịnh Trần có cả những tiếng cười giải thiêng Phật giáo, như chi tiết về Tuệ Trung Thượng Sỹ ghi trong các cuốn sử.

image001.jpg -0
Cảnh "đắc thú lâm tuyền...".

Khi em gái (Thái hậu) mời Tuệ Trung ăn cơm, trong mâm có thịt ông vẫn ăn bình thường, em ngạc nhiên hỏi anh đã theo Phật sao còn ăn thịt. Tuệ Trung thản nhiên đáp: “Phật là Phật, anh là anh. Anh không muốn là Phật, Phật chẳng muốn là anh”. Cơ sở xã hội của tiếng cười không thể không tính đến yếu tố dân chủ khá rõ này. Đó còn là sự coi trọng cá tính, cái tôi cá nhân bắt đầu được chú ý, đề cao.

Lê Văn Hưu trong “Đại Việt sử ký toàn thư” (viết xong năm 1272) thể hiện rõ mục đích phê phán qua giọng châm biếm vua Lý Thần Tông: “Trời sinh ra dân, đặt cho họ một ông vua để chăn dắt họ, không phải để cho ông ta tự cung phụng mình. Lòng cha mẹ ai chẳng muốn con cái có gia thất. Bậc thánh nhân thể theo lòng ấy, chỉ những lo kẻ thất phu thất phụ không được có nơi có chốn. Cho nên, trong “Kinh Thi”… khen sự trai gái lấy nhau đúng lúc và chê cảnh muộn vợ muộn chồng vậy. Vua Thần Tông xuống chiếu ra lệnh cho con gái các quan phải đợi nhà vua tuyển lựa cung nữ xong mới được lấy chồng, đó là tự cung phụng cho sướng cái thân mình, chứ đâu phải là tấm lòng làm cha mẹ dân”.

Lập luận ở mảnh đoạn này khá chặt chẽ, lấy điểm tựa là “trời”, “cha mẹ”, “thánh” tức điểm tựa đạo lý. “Trời sinh ra dân”, còn các vua phương Đông tự phong mình là “thiên tử” (con trời), thay mặt “trời” để “chăn nuôi” dân. Các bậc cha mẹ và các bậc thánh thì luôn mong con cái thành gia thất. Đó là chân lý tình cảm, là quy luật tình thương. Thế mà vua lại đi ngược đạo lý, chân lý, đi ngược lại quy luật thông thường: bắt con gái các quan phải đợi vua tuyển xong cung nữ mới được lấy chồng. Ý châm biếm bật ra: vua ích kỷ, độc ác và giả dối (đâu phải là tấm lòng cha mẹ dân). Con gái có thì, bị cấm đoán như vậy, có người lỡ cả một đời xuân…

Góp phần làm nên kỳ tích ba lần đánh thắng quân Nguyên của nhà Trần là thiên tài Hưng Đạo vương. Không chỉ là nhà chỉ huy quân sự thao lược, ông còn là nhà tâm lý kiệt xuất ở chỗ khích lệ tinh thần tướng sĩ bằng cách vật hoá kẻ thù: “uốn lưỡi cú diều”, “đem thân dê chó”, “hổ đói”. Kẻ thù hiện lên như loài vật tham lam “thoả lòng tham không cùng”, giả dối “giả hiệu Vân Nam vương”, tàn bạo “vét của kho có hạn”. Đồng thời là một tiếng cười mỉa mai châm biếm các tướng sĩ không quan tâm đến vận mệnh quốc gia mà chỉ quanh quẩn ở “sới gà chọi”, ở thú đánh bạc mua vui, ở sự vui thú điền viên “vợ bìu con ríu”... (“Hịch tướng sĩ”).

Tinh thần Học phong Đông A mạnh mẽ, lạc quan, tràn đầy ý chí cũng là cơ sở tạo nên tiếng cười mang nhiều sắc điệu của thời đại. Tiếng cười Trần Dụ Tông tự hào về tinh thần đoàn kết của triều Trần và mỉa mai sự mất đoàn kết của “thiên triều”, qua phép so sánh: “Đường và Việt lập cơ nghiệp có hai vua Thái Tông/ Vua Đường xưng Trinh Quán, vua ta là Nguyên Phong/ Kiến Thành bị giết mà An Sinh thì sống/ Miếu hiệu tuy cùng Thái Tông nhưng cái đức thì khác nhau” (Đường Thái Tông dữ bản triều Thái Tông). Cùng niên hiệu “Thái Tông” nhưng đời Đường bên Trung Hoa, vua Đường giết anh là Kiến Thành nhưng vua Trần Thái Tông của ta thì hòa giải với An Sinh Vương Trần Liễu. Ý nghĩa phổ quát của tiếng cười này khẳng định truyền thống đoàn kết của người Việt là nguyên nhân của mọi thắng lợi.

Tiếng cười thời thịnh trị mang âm hưởng vui, hài hước, đậm tinh thần “hỉ xả” của nhà Phật. Trần Nhân Tông đã có một “Cư trần lạc đạo phú” vui với lẽ đời, thuận với tự nhiên, an nhiên, tự tại còn có một “Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca” vui vẻ, phóng khoáng thoải mái hơn, đời thường dân dã hơn: “Đắc ý trong lòng/ Cười riêng ha hả/ Công danh chẳng trọng/ Phú quý chẳng màng…/ An bề phận khó/ Kiếm chốn dưỡng thân/ Khuất tịch non cao/ Náu mình sơn dã/ Vượn mừng hú hí/ Làm bạn cùng ta/ Vắng vẻ ngàn kia/ Thân lòng hỉ xả/ Thanh nhàn vô sự/ Quét tước thay hoa/ Thờ phụng bụt trời/ Đêm ngày hương hoả…”.

image003.jpg -0
Tranh minh họa cảnh Chu Văn An dâng "Thất trảm sớ"!

Có một chủ đề nhân văn, tiến bộ khá đậm nét trong thơ văn đời Trần là quý trọng con người. Tiếng cười mỉa của Chu Đường Anh trong “Đề Đường Minh Hoàng dục ngã đồ” là một ví dụ: “Con ngựa Ngọc Hoa đẹp lạ lùng/ Tắm xong, dắt tới trước sân rồng/ Nếu vua biết quý người như ngựa/ Đâu đến nhân dân phải khốn cùng”. Một hình thức tương phản tuyệt đối, trời vực là con ngựa và “dân”, con ngựa được đặc tả đẹp sang trọng, ở chốn sang trọng, còn “dân” chẳng thấy đâu vì đang khốn cùng trong bể khó. Tả ngựa chỉ là cái cớ để cười vua Đường nước Trung Hoa coi người không bằng con vật nên “nhân dân phải khốn cùng”. Tư tưởng này đã tạo ra những tiếng cười vui, ung dung bình thản trước dòng chảy thời gian và lẽ chuyển xoay của trời đất.

Tướng quân Trần Quang Khải đánh xong giặc thì vui với thơ: “Lâm râm mưa bụi gội hoa mai/ Khép chặt phòng thơ ngất ngưởng ngồi…/ Đảm khí ngày nào rày vẫn đó/ Đè nghiêng ngọn gió đọc thơ chơi” (Xuân nhật hữu cảm). Hình tượng “đè nghiêng ngọn gió đọc thơ chơi” trước nay chưa được hiểu hết ý nghĩa. Không chỉ là sự hòa nhập vào tự nhiên, còn là bổ ngữ làm rõ ý thơ câu trước: Tinh thần (đảm khí) thời đuổi giặc vẫn còn nguyên!

Nhưng vẫn có tiếng cười buồn, như Trần Quốc Tảng (con thứ Trần Quốc Tuấn), có tư tưởng phản nghịch nên bị biếm chức và đày đi Tĩnh Bang (An Quảng - Quảng Ninh). Bài thơ “Phóng cuồng ca” phần nào nói lên tâm trạng này: “Vui cái vui của ta chừ cùng dòng túi vải/ Ngông cái ngông của ta chừ, khuyên giáo thập phương/ Chà chà! Giàu sang chừ, đám mây nổi/ Than ôi, ngày tháng chừ qua song/ Làm gì chừ, hoạn đồ hiểm trở/ Biết sao chừ, thói đòi viêm lương”. “Dòng túi vải” tức dòng tăng lữ, nhà thơ dùng chữ “vui” nhưng thơ thì buồn, đầy tâm trạng, đầy băn khoăn trong cái nghịch lý ở đời. Cũng là tương phản giữa “cái vui” của một tâm hồn phóng khoáng, ưa tự do với những gì phàm tục “giàu sang”, “hoạn đồ hiểm trở”, “thói đời viêm lương”.

Tiếng cười không hề nhẹ nhàng mà có gì đấy như phẫn uất, đầy trăn trở. Sau này con trai Quốc Tảng - Trần Quang Triều, còn buồn chua chát: “Tình người lúc thân sơ như hạt mưa gõ trên mui thuyền/ Thói đời khi cao khi thấp như ngọn sóng vỗ bên bờ sông” (Trên thuyền uống rượu một mình). Hình ảnh “Hạt mưa gõ trên mui thuyền” không mới nhưng cách so sánh với tình người thân sơ thì mới. Hạt mưa luôn không đều, khi mau khi thưa, khi dồn dập, lúc thoảng qua… như tình người. Câu thơ hay và gợi!

Cuối đời Trần xã hội suy vi, rõ hơn một tiếng cười mang sắc điệu mỉa mai, chán chường với công danh, bi quan với thời thế trong thơ Chu Văn An: “Giấc mộng công danh đà chán ngắt/ Thú chơi hồ hải hãy vung vênh/ Đi về đủng đỉnh chi còn luỵ/ Thẳng cánh âu bay bể rộng thênh” (Giang đình tác). Một giọng thơ hoài cổ, yếm thế: “Tấc lòng ai bảo là như tro nguội/ Nghe nói tiên hoàng thầm gạt lệ” (Miết trì).

Trần Nguyên Đán đau đời mà tự mỉa, tự cho mình vô ích vì không đem sở học cứu dân: “Mấy năm liền mùa hè bị hạn, mùa thu bị lụt/ Lúa khô mạ thối tai hại rất nhiều/ Đọc ba vạn sách mà thành vô dụng/ Đầu bạc tuổi già rồi, luống phụ lòng yêu dân” (Thơ làm ngày tháng sáu năm Nhâm Dần). Thiên tai nhiều, không có địch hoạ nhưng họa mất nước đã từ bên trong hiện ra, nỗi ưu quốc ái dân trong thơ Trần Nguyên Đán vừa như có tiếng khóc phẫn uất vừa như có tiếng cười buồn xót xa: “Muôn nước nhân dân cá vạc sôi/ Miền Đông cõi Bắc tả tơi rồi/ Thuyền về trằn trọc khôn yên giấc/ Ghé ngọn đèn câu giở sách coi” (Thơ làm trong thuyền đang về trong đêm). Sang thế kỷ XIV nhà Trần suy yếu, Chu Văn An dâng ''Thất trảm sớ'' nhưng không được chấp nhận...

Là một biểu hiện rõ nhất của thời thế và nhân thế, sắc độ và cung bậc tiếng cười là thước đo sự hưng vong một xã hội. Điều ấy thể hiện thật rõ trong văn học đời Trần! 

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).