Thơ với hành trình đi dọc Tổ quốc

Trong văn học Việt Nam hiện đại, quê hương luôn là một trong những nguồn cảm hứng bền bỉ, sâu nặng và giàu sức lay động nhất. Quê hương trong thơ không chỉ là nơi chôn nhau cắt rốn, không chỉ là một địa danh cụ thể, mà còn là không gian văn hóa, là ký ức, là lịch sử, là tình người, là chiều sâu tâm hồn dân tộc.

Bởi vậy, khi tiếp cận cuốn sách "Những miền quê trong thơ Việt" mới được NXB Đại học Sư phạm ấn hành của hai nhà phê bình văn học trẻ Nguyễn Hoài Nam và Đỗ Anh Vũ, người đọc không chỉ bắt gặp một tuyển tập thơ về các vùng đất Việt Nam, mà còn được bước vào một hành trình tinh thần đi dọc đất nước bằng thi ca.

nhà van ð- anh vu (trái) và nhà van nguy-n hoài nam.jpg -1
Nhà văn Đỗ Anh Vũ và nhà văn Nguyễn Hoài Nam.

Cuốn sách giống như bản đồ thi ca của đất nước

Điểm thành công đầu tiên của "Những miền quê trong thơ Việt" là ở ý tưởng tuyển chọn. Đây không phải một tuyển tập thơ về quê hương theo nghĩa chung, mà là sự quy tụ có chủ đích những bài thơ gắn với các vùng đất cụ thể: từ Khau Vai, Lai Châu, Sa Pa, Hoàng Liên của miền núi phía Bắc; đến Kinh Bắc, Hà Nội, xứ Nghệ, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt; rồi xuôi vào Bến Tre, Vàm Cỏ Tây, Pleiku, Sài Gòn, mũi Cà Mau. Nhờ đó, cuốn sách giống như một bản đồ thi ca của đất nước, nơi mỗi địa danh không chỉ hiện ra bằng tên gọi mà còn bằng khí hậu, cảnh sắc, lịch sử, văn hóa và hồn người.

Khau Vai trong thơ Trần Hòa Bình là một miền đá tai mèo nhọn sắc, một không gian chất chứa truyền thuyết tình yêu dang dở. Những câu thơ như “Khau Vai buồn như đá” vừa tái hiện màu sắc địa phương, vừa gợi nỗi đau thân phận. Lai Châu trong thơ Trần Mạnh Hảo lại hiện lên vừa dữ dội, vừa tình tứ, nơi “Hoa ban nở thành người con gái Thái” cho thấy sự hòa quyện tuyệt đẹp giữa thiên nhiên và con người Tây Bắc. Sa Pa của Vũ Duy Thông mờ trong sương và ký ức, để lại “một cành đào trong sương” như một ám ảnh mong manh mà bền lâu. Với “Pha Đin”, Trần Nhật Minh lại ghi dấu một miền đất “đất và trời giao hoan”, nơi địa hình hiểm trở được thắp ấm bởi tri kỷ, bởi rượu, bởi tình người.

Qua cách tuyển chọn ấy, cuốn sách không chỉ đưa người đọc đi qua nhiều miền đất, mà còn khẳng định một điều: mỗi vùng quê Việt Nam đều có vẻ đẹp riêng, có bản sắc riêng, có tiếng nói riêng trong thơ ca dân tộc. Đó là một cách nhìn bao quát mà vẫn tinh tế, giàu ý nghĩa văn hóa.

Giá trị nổi bật nhất của cuốn sách nằm ở chỗ mỗi bài thơ là một phát hiện nghệ thuật riêng về quê hương. Quê hương trong tập sách không đơn điệu, không lặp lại, mà hiện lên ở nhiều sắc thái khác nhau: có hùng vĩ, thơ mộng, cổ kính, dịu dàng; có đau thương, khốc liệt, nhớ thương, tự hào. Ở mảng thơ viết về miền núi, vẻ đẹp quê hương thường gắn với sự hùng vĩ của thiên nhiên và cái sâu nặng của tình người.

Ở mảng thơ về đồng bằng Bắc Bộ và Hà Nội, quê hương hiện lên giàu chiều sâu văn hóa, lịch sử và ký ức. “Mưa Thuận Thành” của Hoàng Cầm là một bài thơ rất tiêu biểu. Mưa ở đây là mưa của Kinh Bắc cổ xưa, của những bóng dáng đàn bà đẹp và truân chuyên với hình ảnh mưa tạo nên một không gian đẫm chất huyền thoại và văn hóa.

Cũng với Hà Nội, cuốn sách cho thấy nhiều lối tiếp cận phong phú. “Phố Phái” của Nguyễn Việt Chiến khắc họa một Hà Nội cổ kính, rêu nâu, gạch rạn, bảng lảng sương mưa như bước ra từ tranh Bùi Xuân Phái. Còn “Có một phố vừa đi qua phố” của Đinh Vũ Hoàng Nguyên lại đem đến một Hà Nội vừa phố vừa làng, vừa lam lũ vừa thơ mộng, có chiều sâu lịch sử mà vẫn thấm đẫm hơi thở đời thường.

Ở miền Trung, quê hương hiện lên với sự khắc nghiệt và bền bỉ. “Miền Trung” của Hoàng Trần Cương là tiếng nói đầy thương yêu và day dứt về một vùng đất “mỏng và sắc như cật nứa”. Đó là mảnh đất nghèo, nhiều mất mát, nhiều đau đớn, nhưng cũng là nơi “tình người đọng mật”. “Sông Lam” của Trần Mạnh Hảo tiếp tục dựng nên chân dung xứ Nghệ vừa khô cằn, vừa ngang tàng, vừa giàu khí phách và chữ nghĩa.

Huế trong tập sách hiện ra với nhiều gam màu riêng biệt. “Chiều Hương Giang” của Nguyễn Khoa Điềm nhẹ và trong như nước sông Hương; “Giời mưa ở Huế” của Nguyễn Bính đẫm nỗi buồn tha hương, phiêu dạt; “Huế” của Nguyễn Tiến Thanh lại nghiêng về cảm thức mộng ảo với chiều sâu biểu tượng; “Tạm biệt Huế” của Thu Bồn là một trong những bài thơ đẹp nhất về cố đô, nơi “con sông dùng dằng con sông không chảy/ sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”. Những hình ảnh ấy cho thấy Huế không chỉ là địa danh, mà là một trạng thái tâm hồn.

Đi vào Nam Bộ, quê hương lại mang vẻ phóng khoáng, tình nghĩa và đau thương. “Trở về quê nội” của Lê Anh Xuân là tiếng reo vui xen lẫn xót xa của đứa con trở lại Bến Tre sau nhiều năm xa cách. “Đi trong hương tràm” của Hoài Vũ khiến hương tràm trở thành biểu tượng của tình yêu, của ký ức, của lòng chung thủy. “Mũi Cà Mau” của Xuân Diệu nâng mảnh đất cực Nam thành hình tượng Tổ quốc. Có thể nói, điểm hay của cuốn sách là để cho chính thơ nói lên vẻ đẹp quê hương bằng hệ thống hình ảnh giàu sức gợi, giàu nhạc tính và cảm xúc.

Lời bình tinh tế, khơi mở chiều sâu tác phẩm

Nếu chỉ có phần tuyển thơ, cuốn sách đã có giá trị, nhưng chính phần lời bình mới làm nên nét riêng và công phu của tập sách này. Nguyễn Hoài Nam và Đỗ Anh Vũ không bình thơ theo lối hàn lâm nặng nề, cũng không sa vào cảm thán mơ hồ. Họ thường đi theo một lối viết ngắn gọn, sáng rõ, giàu thông tin nền, rồi từ đó mở ra cái hay của hình ảnh, của cấu tứ, giọng điệu hoặc tầng nghĩa văn hóa của bài thơ.

bìa t-p sách nh-ng mi-n quê trong tho vi-t.jpg -0
Bìa tập sách “Những miền quê trong thơ Việt”.

Nguyễn Hoài Nam cũng thể hiện rõ sở trường của mình ở những bài thơ giàu hoài niệm, văn hóa và tâm trạng. Điều đáng quý là lời bình trong cuốn sách luôn giữ được vị trí “người bạn đồng hành” của bài thơ. Nó không áp đặt người đọc, không làm thay người đọc, mà chỉ gợi mở, soi sáng, mời gọi. Đó là kiểu bình thơ có văn hóa đọc, có sự tiết chế và có lòng yêu thơ thật sự.

Một điểm đáng ghi nhận là "Những miền quê trong thơ Việt" không chỉ là sách dành cho người yêu thơ nói chung mà còn có phẩm chất gần với sách giáo khoa, sách tham khảo văn học cho học sinh THPT. Trước hết, phần tuyển chọn tác phẩm vừa tiêu biểu, vừa giàu tính thẩm mỹ. Phần lời bình của tập sách chính là những mẫu cảm thụ văn học tốt: ngắn, rõ, có thông tin, có nhận xét nghệ thuật, có kết nối nội dung tư tưởng, đây là một giá trị rất thực tiễn.

Quan trọng hơn, cuốn sách góp phần giáo dục tình yêu quê hương đất nước một cách tự nhiên, mềm mại mà thấm sâu. Trong bối cảnh đời sống hiện đại khiến nhiều người trẻ dễ rời xa ký ức văn hóa dân tộc, một cuốn sách như thế giúp các em hiểu rằng đất nước không phải khái niệm trừu tượng.

Đóng góp của hai tác giả không chỉ nằm ở công việc sưu tuyển và bình thơ, mà còn ở việc khơi dậy một ý thức văn hóa đẹp đẽ để trở về với quê hương bằng con đường nghệ thuật. Trong một thời đại nhiều biến động, cuốn sách nhắc ta nhớ rằng mỗi con người Việt Nam chỉ thực sự trưởng thành khi trong tâm hồn mình còn giữ được một miền quê, một dòng sông, một bến bờ ký ức để thương, để nhớ, để tự hào và để sống có trách nhiệm hơn với đất nước của mình.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).