Thơ Nguyễn Quang Thiều - “Dưới bóng ô liu” - nỗi đau trở thành lời cầu nguyện

Sau tập trường ca “Lò mổ” được dư luận văn học quan tâm, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa in tiếp tập thơ song ngữ “Dưới bóng ô liu” do NXB Hội Nhà văn ấn hành, gồm những bài thơ ông viết trong chuyến đi thực tế cùng các nhà văn Việt Nam tới các vùng đất đau thương vì chiến tranh của người dân Palestine.

Tôi đến thăm Nguyễn Quang Thiều sau tai nạn giao thông bị “gãy xương sườn, gãy xương đòn vai, chấn thương đầu” mà ông vừa trải qua mới đây. Tôi thật sự ngạc nhiên khi thấy ông như một chiến binh không chịu nghỉ ngơi sau thương tật, vẫn vắt kiệt mình cho thi ca khi hằng ngày cần mẫn biên tập cho cuộc thi “Thơ ca và nguồn cội” đang thu hút sự quan tâm của hàng ngàn nhà thơ trong và ngoài nước.

Ngực và tay vẫn còn băng bó, ông ngước ánh mắt trầm buồn nhìn tôi: “Thơ ca sẽ cứu rỗi chúng ta trong những ngày bất hạnh nhất của cuộc đời”. Tôi lắng nghe và hiểu ông vì tôi cũng từng trải qua những tháng ngày khó khăn nhất trong cuộc đời viết báo và làm thơ của mình.

Thơ Nguyễn Quang Thiều - “Dưới bóng ô liu” - nỗi đau trở thành lời cầu nguyện -0
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều.

Một biên niên sử thi ca của máu và nước mắt

Qua tập thơ “Dưới bóng ô liu”, Nguyễn Quang Thiều, một trong những tiếng nói thơ ca đầy nhân tính và suy tư của văn học Việt Nam đương đại, khi đến với Palestine, đã không chỉ quan sát bằng đôi mắt của người làm thơ, mà còn bằng trái tim của một chứng nhân. Trong các bài thơ của mình, nhà thơ không đơn thuần thuật lại hiện thực chiến tranh, mà đã khắc họa một miền đất rỉ máu và một dân tộc đau thương bằng giọng điệu vừa thầm thì, vừa bi thiết, là nơi thơ ca trở thành lời cầu nguyện, lời buộc tội và lời chứng của lịch sử.

Thơ của Nguyễn Quang Thiều như một bản tụng ca đau thương cho Palestine và bài thơ “Dưới bóng ô liu” là lời tụng ca thiêng liêng cho sự sống giữa cái chết. Cây ô liu, biểu tượng của hòa bình, vẫn nở hoa dưới máu, như một hình ảnh kiêu hãnh của sự hồi sinh và bền bỉ của người Palestine. Biểu tượng cây ô liu, biểu tượng hòa bình được ông tái hiện đầy nghịch lý và chấn động “Hoa ô liu nở và máu chảy”.

Đây không còn là mảnh đất thánh mà là một thiên đường bị thương tích, nơi cái đẹp vẫn hiện diện, nhưng phải kiêu hãnh đứng giữa máu và nước mắt. Thi sĩ dựng nên một khung cảnh mà ở đó thiêng liêng và bi thương trộn lẫn, nơi những lời thì thầm của người chết vang dưới gốc cây và máu thấm đất trong khi các vị Thánh đang ngủ “Dưới gốc ô liu/ Máu vẫn chảy/ Đợi các Ngài thức dậy”. Đây không chỉ là lời nhắn gửi các bậc thiêng liêng mà là lời đánh thức lương tri nhân loại, rằng cần phải tỉnh dậy khỏi cơn mê của vô cảm, của im lặng trước bất công và máu đổ.

Thơ Nguyễn Quang Thiều ở đây đạt tới chiều sâu triết lý, khi đối lập thiên đường với giấc mơ, với thực tại đau thương. Các vị Thánh ngủ, nhưng máu vẫn chảy. Lịch sử không chờ đợi sự phán xét siêu hình, mà đòi hỏi lòng trắc ẩn và tỉnh thức từ con người sống hôm nay. Trong tập thơ "Dưới bóng ô liu", các bài thơ với các góc nhìn khác nhau, cùng tạo nên một bức tranh toàn cảnh về số phận bi kịch của vùng đất Palestine, nơi chiến tranh, tôn giáo, chính trị và máu đổ hòa vào nhau, tạo thành một biên niên sử của máu và nước mắt.

Trong bài thơ “Lễ rửa tội ở sông Jordan” của Nguyễn Quang Thiều, sông thiêng không còn trong sạch. Những dòng nước rửa tội giờ đây không gột được tội lỗi, vì tội lỗi đã ngấm vào lịch sử, vào chính con người. Câu thơ “phải rửa bằng nước mắt... hoặc bằng máu chính mình” không chỉ mang tính biểu tượng mà còn là một lời cảnh tỉnh sâu sắc: chiến tranh, dù được nhân danh bởi bất kỳ điều gì, cũng chỉ gây ra thương tích vĩnh viễn cho nhân loại, và không gì có thể xóa nổi dấu tích của khổ đau trong tâm hồn con người.

Thơ Nguyễn Quang Thiều đã đạt đến đỉnh xúc cảm trong tứ thơ “Bài ca buồn cho Murad” như một khúc bi ca dành cho nhà thơ Murad Sudani, nhưng cũng là bản điếu văn cho những tâm hồn yêu tự do đã ngã xuống. Hình ảnh Murad đi bộ suốt đêm, không ngủ, quỳ gối, hai tay mang “chữ” và “máu” đã tạo nên biểu tượng bi tráng cho người nghệ sĩ giữa thời loạn. Đó là thi ca của sự chứng kiến, thi ca của máu, nước mắt và sự dấn thân.

Lặng lẽ chiêm nghiệm soi rọi vào vết thương của thế giới

Điểm nổi bật trong nghệ thuật thi ca của Nguyễn Quang Thiều là ông có khả năng dựng hình mạnh mẽ, giàu chất điện ảnh và biểu tượng. Ông không miêu tả chiến tranh bằng tiếng nổ hay khói lửa, mà đôi khi bằng ánh nhìn trần trụi và ánh nhìn tâm linh: “Lỗ nòng súng - một con mắt đen ngòm/ Không bao giờ khép”.

Tính ẩn dụ và biểu tượng trong thơ ông tạo nên không gian nghệ thuật vừa tĩnh lặng vừa bức bối như một bức tranh đẹp bị khoét thủng bởi chiến tranh. Ngôn ngữ thơ của ông mang sắc thái tụng ca và nguyện cầu, với nhịp điệu thong thả, ngân dài, như lời rì rầm của ký ức và dự cảm. Nhiều đoạn thơ gợi liên tưởng đến văn chương tôn giáo, với các từ ngữ như: “Rửa tội”, “Thánh”, “Thiên đường”, “nguyện cầu”, “máu”, “giấc mơ”... Điều đó làm tăng chiều sâu tâm linh và nhân bản, giúp thơ vượt qua ranh giới thời sự để bước vào địa hạt của tư tưởng và lương tri.

Thơ Nguyễn Quang Thiều - “Dưới bóng ô liu” - nỗi đau trở thành lời cầu nguyện -0
Bìa tập thơ “Dưới bóng ô liu” của  nhà thơ Nguyễn Quang Thiều.

Với Nguyễn Quang Thiều, thơ như chứng nhân, thơ như hành động. Không chỉ là thơ để cảm, thơ còn là hành động đạo đức của người viết. Ông viết không phải để mô tả, mà để lên tiếng, để giữ lại trong thi ca những điều lịch sử thường bỏ quên: nỗi đau của người dân, tiếng khóc của trẻ thơ, và bước chân của những thi sĩ như Murad. Như thế, Nguyễn Quang Thiều không chỉ đến Palestine bằng vai trò một nhà thơ, ông đến bằng cả một sứ mệnh: mang ánh sáng lương tri đến nơi u tối của chiến tranh.

Các bài thơ trong tập "Dưới bóng ô liu" như những nhánh máu nhỏ chảy về một trái tim nhân loại đang rỉ máu. Ở đó, người đọc không chỉ thấy sự đau đớn, mà còn thấy niềm tin mong manh nhưng bất khuất: rằng thơ ca vẫn có thể hát lên giữa những hàng rào thép gai, vẫn có thể nở như hoa ô liu giữa sỏi đá, và vẫn có thể sống sót giữa bạo lực bằng tình người, bằng ký ức và bằng khát vọng hòa bình.

Nguyễn Quang Thiều không viết những bài thơ để kể lể hay than khóc. Thơ ông là tiếng nói đầy giận dữ và đau đớn của một nhân chứng, của một người không chấp nhận im lặng trước bất công. Thông điệp xuyên suốt qua các bài thơ như sự khẳng định: Không có dòng nước nào rửa sạch được tội lỗi chiến tranh, chỉ có nước mắt và máu mới làm được điều đó. Cái đẹp vẫn tồn tại, nhưng nó bị vây quanh bởi súng đạn, hàng rào thép gai và sự đe dọa.

Thi ca không chỉ để ngợi ca mà để chứng kiến, để ghi lại, để cất tiếng kêu cứu. Palestine không chỉ là vùng đất của xung đột, mà còn là nơi những tâm hồn bất khuất, những cây ô liu vẫn nở hoa và những người như Murad vẫn tiếp tục viết bằng máu của mình. Đó là nỗi đau thánh thiện, một bản thi ca đẫm máu và nước mắt như chính vùng đất nơi thi sĩ đã đặt chân.

Từ các góc nhìn trên, ta thấy Nguyễn Quang Thiều, nhà thơ đương đại mang đậm dấu ấn của tư duy hiện sinh và cảm thức nhân văn. Khi đặt chân đến Palestine, ông không chỉ viết thơ như một người quan sát, mà viết như một kẻ đã thấm đẫm hơi thở, nước mắt và bóng tối của mảnh đất khổ đau này. 5 bài thơ: “Người hầu bàn ở Beauty Inn”, “Viết dưới chân núi Cám Dỗ”, “Chim én ở Ramallah”, “Giải mộng” và “Gương mặt Đức Mẹ” là 5 lát cắt đầy ám ảnh về một vùng đất bị chia cắt bởi chiến tranh và khát vọng được sống trong tự do, trong hòa bình. Qua đó, phong cách thơ hiện đại của Nguyễn Quang Thiều đã bộc lộ rõ nét với 3 đặc điểm tiêu biểu: sử dụng hình ảnh biểu tượng đầy sức gợi, giọng điệu trầm lắng pha trộn hiện thực và tâm linh, với tư duy thơ giàu triết lý mang tính tự sự nhân bản.

Điểm nổi bật đầu tiên trong phong cách thơ của ông là ngôn ngữ biểu tượng và hình ảnh giàu sức ám thị. Trong “Người hầu bàn ở Beauty Inn”, hình ảnh chiếc đĩa trống khổng lồ “đợi một miếng TỰ DO” đã trở thành biểu tượng xuyên suốt của khát vọng sống căn bản nhất của con người Palestine: không phải quyền lực, không phải sự giàu sang, mà chỉ là một miếng tự do giản dị nhưng thiêng liêng.

Nguyễn Quang Thiều còn đặc trưng bởi giọng thơ kết hợp giữa hiện thực khốc liệt và những rung động siêu hình, tạo nên một chất thơ vừa trần trụi, vừa huyền ảo. Trong “Gương mặt Đức Mẹ”, ông nhìn thấy Đức Mẹ không phải ở máng cỏ hay ngõ nhỏ linh thiêng, mà là trong ánh mắt của những cô lính trẻ như một nghịch lý đau lòng về tôn giáo, lòng tin và bạo lực. Nguyễn Quang Thiều không làm thơ để kể chuyện, ông làm thơ để chiêm nghiệm, để lặng lẽ soi rọi những vết thương của thế giới.

Điều sâu xa mà các bài thơ của Nguyễn Quang Thiều hướng tới không phải là kể lể về Palestine, mà là tạo nên tiếng nói của một lương tri thi sĩ, kẻ nhìn thế giới bằng trái tim biết đau, biết sẻ chia và không im lặng trước cái ác. Với ngôn ngữ dung dị mà giàu lớp nghĩa, với hình ảnh biểu tượng cô đọng và giọng điệu nhẹ mà sâu, thơ ông không tạo bi kịch kịch tính, mà lặng lẽ gieo vào tâm trí người đọc một nỗi buồn cao cả, một tiếng vọng về tự do bị đánh cắp.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).