Thơ hay cần sự lóe sáng xuất thần của tâm hồn người viết

Nhà thơ Trần Hòa Bình, SN 1956, quê Ba Vì, Hà Nội, tốt nghiệp và giảng dạy tại khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội rồi về giảng dạy tại khoa Báo, Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Anh có nhiều tác phẩm in riêng và in chung gồm: thơ, phê bình thơ, truyện thơ, giới thiệu văn thơ thiếu nhi, các tuyển tập văn học dân tộc và miền núi.

Quan trọng nhất là "Tuyển tập tác phẩm Trần Hòa Bình" dày 900 trang NXB Hội Nhà văn 2009, tập hợp toàn bộ thơ và các bài phê bình tiểu luận và báo chí sau khi anh đường đột qua đời năm 2008 trong sự tiếc thương của nhiều bạn bè và độc giả văn chương.

Cứ mỗi lần có dịp đi qua Sơn Tây, Ba Vì tôi lại bâng khuâng thấy nhớ hai người bạn thơ tài hoa miền Xứ Đoài đã đi xa là Trần Hòa Bình và Nguyễn Lương Ngọc. Họ như hai đám-mây-thơ vẫn còn phiêu bạt đâu đó bên núi Tản, sông Đà vằng vặc một miền thơ, một miền thi nhân. Quê hương là nỗi niềm luôn hiện hữu, luôn thao thức trằn trọc trong trái tim mỗi nhà thơ.

Với Trần Hòa Bình, trong bài thơ "Sơn Tây một phía" là những con phố nhỏ bình yên, lặng lẽ vừa đủ với tâm hồn con người khi anh ví mình như chiếc lá bàng phiêu du trong gió, chỉ mong được trở về yên tĩnh dưới mái nhà của mẹ: "Mưa nhè nhẹ rất thương choàng lên phố nhỏ/ Những chiếc lá bàng trong ngõ vắng lang thang/ Thành hào cũ phong bao một bài thơ cổ/ Chẳng biết dành tặng ai, yên tĩnh quá chừng/ Bỏ lại sau lưng những dặm dài cát bụi/ Những ưu phiền, thành bại tuổi ba mươi/ Mẹ ơi mẹ con lại về bẻ củi/ Bữa cơm chiều cuối năm nghe lửa réo quanh nồi/ Chúng con như những chiếc lá bàng phiêu du trong gió/ Vẫn khát nửa hồn mình được yên tĩnh tựa chiều nay/ Em dịu hiền rất thương lấy chồng nơi chân núi/ Biết xuân này có trở lại Sơn Tây?".

untitled-3.jpg -0
Nhà thơ Trần Hòa Bình.

Điệu ru thấm đẫm tình người, tình quê hương

Tôi chợt nhận ra, thơ Trần Hòa Bình thường có có một điệu ru buồn thật đẹp và thật tinh tế, nó như một đóa-hoa- vô-thường nở chậm, nở từng cánh một trước khi trở thành những cánh chim bay về miền ký ức xa xôi để đánh thức những kỷ niệm của một đời người, một đời thơ, một đời yêu như trong "Bài hát ru hoa sen" của anh: "Ngủ đi những đóa sen/ Sen mọc bên nhà em/ Ta hái về thành phố/ Đêm nay Từ Sơn ta nhớ/ Đêm nay Từ Sơn còn nhớ ta/ Ngủ đi những đóa hoa/ Giấc mơ yêu nồng thắm của ta/ Hết khổ đau lại chập chờn hy vọng/ Hạnh phúc là gì, hạnh phúc có thật không?/ Ôi những đóa sen dè dặt cánh hồng/ Ngủ đi những đóa hoa vợ chồng/ Ta ru hoa một đêm dài đơn độc/ Và em nữa, đã bao giờ em khóc/ Trước hồn sen trong vắt một ước nguyền/ Trước những cánh sen quay trong gió như thuyền?/ Ngủ đi - nhưng đừng vào lãng quên/ Những bông hoa ta hái về chậm trễ/ Ta thương em mà không sao thưa được/ Ta yêu em mà không sao nói được/ Sen ngủ trong bình, em thức trong ta/ Ngủ đi những đóa hoa lạ nhà/ Hãy mơ giùm ta một mùa đôi lứa/ Đêm nay hồn ta hé nở/ Nhớ một đầm sen/ Thổi gió dài tóc em".

Theo tôi, bài thơ này là một trong những bài thơ tình hay nhất của thi ca đương đại Việt Nam, khi nhà thơ vùi đắm mình trong giấc mộng huyền ảo của hoa sen mang vẻ đẹp của một người tình mê đắm đã đưa anh vào một cõi sống khác, một thế giới khác. Trong bài thơ trên, nhà thơ đã xuất thần với những hình ảnh thơ đầy linh cảm về "những đóa sen chồng vợ" trong một lời ru thao thiết thấm đẫm tình người, tình quê hương. Đây là một bài thơ tình rất mực say đắm và buồn đến xa xót như dự cảm điều không lành của đôi lứa sắp phải cách xa nhau.

Một điều khác biệt nữa, thật kỳ ảo với cái nhìn đậm đặc chất thi sĩ, một số bài thơ tình của Trần Hòa Bình như luôn được khơi gợi từ một cảnh sắc thiên nhiên hoang dã và đầy bí ẩn như một phiên chợ tình ở miền núi cao, một địa danh mang trong nó một chất thơ, một khí quyển thơ rất lãng mạn, đầy hoài niệm như khi nhà thơ viết bài thơ tình "Khau Vai", anh đã mở đầu bằng một lời đề tựa: "Có những con đường không thể dẫn tới thành Roma nhưng Khau Vai thì tới" với những hoài cảm rất ám ảnh: "Một người đi tìm một người/ Bao nhiêu người đi tìm bao nhiêu người/ Khau Vai buồn như đá/ Nước mắt người già mài trên má/ Đâu rồi thời rung reng vòng bạc, lắc đồng/ Em kìa, những cây sa mộc lặng lẽ trong thung/ chúng đang nghĩ gì?/ em đang nghĩ gì?/ Nếu một mai mình không lấy được nhau/em có đi tìm anh/ qua điệp trùng đá sắc/ những Khau Vai bầm dập dấu chân người?/ Trời ơi Khau Vai/ Khau Vai nhìn qua nước mắt/ Bong bóng về trời/ Thương buồn gửi lại…".

Và, tưởng như trái tim thi sĩ nơi Trần Hòa Bình từng bị vỡ rạn, bị xước rách trước những câu chuyện tình ở xứ sở Khau Vai, khi tác giả chợt nhận ra trong số phận mỗi người trên thế gian này đều có một Khau Vai trong những mối tình si đắm đuối của mình: "Những cuộc tình vụng dại/ những cuộc tình khôn ngoan/ đã sống và đã chết ở nơi này/ Không khôn ngoan không vụng dại/ Chỉ lặng chìm như đá/ Chỉ bời bời như mây/ Chúng ta sa mộc chiều nay/ Em hai mươi thoắt thành ngàn tuổi/ Em có anh xa xót thế này sao/ Quỳ trước núi và tin thôi em ạ/ Ai trong đời chẳng có một Khau Vai/ Nhọn sắc đá tai mèo/ Cứa vào thương nhớ/ Hãy nhìn nhau nhìn nhau trước gió/ Em sẽ thấy một Khau Vai trong số phận chúng mình".

Đáng chú ý, bài thơ này dường như là bài thơ cuối cùng Trần Hòa Bình viết trong năm 2008 trước khi anh ra đi, phải chăng điều tiên cảm đã hiển lộ trong những câu thơ: "Nếu một mai mình không lấy được nhau/ em có đi tìm anh/ qua điệp trùng đá sắc/ những Khau Vai bầm dập dấu chân người?/ Trời ơi Khau Vai/ Khau Vai nhìn qua nước mắt/ Bong bóng về trời/ Thương buồn gửi lại". Với những câu thơ rất mực lãng mạn buồn, đầy ưu tư và đẹp một cách giầu chất thơ gợi cảm như vậy, Trần Hòa Bình đã ghi dấu ấn trong tâm hồn người đọc qua nhiều tháng năm.

Làm cách nào để nhận biết một bài thơ hay?

Trong số nhiều tác phẩm văn chương để lại, trong tuyển tập Trần Hòa Bình in sau khi anh mất, ta gặp một nhà viết phê bình - tiểu luận khá sắc sảo khi luận bàn về thi ca. Trong "Đôi lời về công việc bình thơ", anh cho rằng: "Cái khó trong việc bình một bài thơ là ở chỗ bằng trực cảm, ta đã có thể nhận biết đó là một bài thơ hay, nhưng nó hay như thế nào và bởi đâu mà nó hay thì lại không dễ gì chỉ ra được! Sự khó khăn này sinh ra từ những đặc trưng của thể loại thơ ca: một bài thơ đích thực bao giờ cũng là một lóe sáng giữa chốn mung lung trong tâm hồn nhà thơ, một phút xuất thần của tâm trạng mà chỉ có nhà thơ ấy có.

Lại nữa, hơn bất cứ thể loại nghệ thuật ngôn từ nào, ngôn ngữ thơ ca bao giờ cũng là tinh túy của phẩm chất ngôn ngữ dân tộc, nó lại được chắt lọc và sắp xếp ở mức tinh vi nhất bởi bàn tay "phù thủy ngôn từ" của các nhà thơ! Đi tìm sự lóe sáng trong tâm hồn nhà thơ đã biến hóa như ảo ảnh nơi các con chữ, đã là điều khó. Đi tìm sự lóe sáng trong khoảng vô ngôn giữa các câu chữ, còn khó hơn nhiều. Những bài thơ hay, oái oăm thay, lại là những bài thơ có sức vang vọng ở những khoảng vô ngôn - nó buộc người đọc phải biết nghe như nghe một khoảng lặng trong bản nhạc, phải biết nhìn như nhìn một khoảng trống trong tranh thủy mặc…".

Luận bàn về cách bình thơ như trên, quả thật Trần Hòa Bình là một nhà thi ngữ rất am tường và tinh sắc. Trong những khoảnh khắc lóe sáng của tâm hồn như vậy, anh chợt nhớ tới câu thơ "Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm" của nhà thơ Quang Dũng để viết bài thơ "Mây trắng bay" sau đây: "Người làm thơ đã ra đi mãi mãi/ Chẳng biết có được như đám mây rong ruổi tít trời cao/ Áo thi nhân bụi trần lấm láp/ Nhưng mắt không trong, thấy mây trắng được nào/ Ôi những đám mây bời bời trên đỉnh núi/ Như bài thơ không vần viết mãi chưa xong/ Ai mắt trong thì về đây mà đọc/ Mây chẳng vô tình, gió chẳng hư không/ Ta là gã con trai lẩn thẩn của xứ Đoài/ Nhìn mây trắng dở cười, dở khóc/ Thương người làm thơ trọn kiếp mệt nhoài/ Chỉ vì mang đôi mắt trong!".

Bài thơ ngắn và khá kỳ lạ trên chuyển tải một tứ thơ lớn, để nói rằng, chỉ có những người có đôi- mắt-trong của một thi nhân có nhân bản - nhân cách đích thực mới có thể đọc được những đám-mây-thơ bay trắng xứ Đoài xưa (trong thơ Quang Dũng), tới hôm nay vẫn còn bay bời bời trên đỉnh núi kia mà nếu mắt - không - trong thì làm sao ta thấy được. Và, câu thơ cuối khép lại như một chia sẻ với người thơ có đôi - mắt - trong mà đời thơ vẫn lận đận dẫu tài hoa hơn người.

Đã 17 năm kể từ ngày Trần Hòa Bình giã biệt cõi đời này, trong tâm tưởng tôi vẫn còn đọng lại dư âm "Bài hát ru hoa sen" của anh mà tôi từng gửi gắm cảm xúc trong bài thơ "Hòa trong nước một bình sen đẫm nước" viết tặng hương hồn anh dưới đây: "Khi nhà thơ rời bỏ thế gian này/ Không có nghĩa là anh từ bỏ/ Khi kết thúc một hành trình sống/ Anh trở lại cuộc đời bằng những câu thơ/ Để lấp đầy một cõi người trống rỗng/ Để yêu thương không tàn lụi bất ngờ/ Khi nước mắt phải ru bằng nước mắt/ Anh ru gì cho một đóa sen tươi/ Sen đang nở và thơ anh còn thở/ Ở bên sen, anh lặng lẽ ít lời/ Khi sen ngủ, anh đi về phía biển/ Trong hồn anh còn một đóa trăng tươi/ Khi anh ngủ thì sen kia đến thức/ Sen ru anh vằng vặc một trăng tươi/ Hòa trong nước một Bình sen đẫm nước/ Để Trần gian tươi lại một đóa người".

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).