Thơ đi sứ của Lê Quý Đôn!

Theo nghĩa tích cực, thời nào cũng vậy, vai trò sứ giả rất quan trọng trong việc gắn nối, gắn kết các quốc gia để làm vững chắc hơn mối quan hệ hữu nghị, hòa bình. Ngày xưa, ngoài vốn hiểu biết sâu rộng, giỏi đối đáp, các sứ giả còn thường là nhà thơ… Có đầy đủ những tiêu chí ấy, dễ hiểu Lê Quý Đôn được cử đi làm nhiệm vụ này. Trong quãng thời gian đi sứ bên Trung Quốc, ông viết khoảng gần 300 bài thơ. Xin được giới thiệu tiếng thơ đối thoại ấy về hai đối tượng: với tiền nhân và bạn bè.

Thơ đi sứ của Lê Quý Đôn! -0
Chân dung nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784).

Đối thoại với tiền nhân - Khát vọng hòa bình, giàu có, thịnh trị

Mọi nền chính sự phải vì dân

Bài “Kinh Trảo Trực đường chí Hoa Sơn” (Qua Trảo Trực đến Hoa Sơn) có hai câu cuối: “Thổ tình suy yết Hoàng Sào khởi/ Ưng nghiệm đương niên triệu chiến trường” (Tinh hoa đất đai suy kiệt, Hoàng Sào nổi dậy/ Nên chiêm nghiệm về điều binh lửa ấy). Hoàng Sào nổi tiếng học giỏi tài cao nhưng không ra làm quan, về sau lãnh đạo nông dân khởi nghĩa chống lại nhà Đường (875-884). Vì sao vậy? Mệnh đề phía trước là câu trả lời: “Thổ tình suy yết”, vì bị bóc lột quá, vì nhân tài không được trọng dụng... Bài thơ bật ra một ý nghĩa mang tính phổ quát: Cố mà tránh chiến tranh, phải biết chăm lo dân, biết trọng hiền tài. Đó là nền tảng “tinh hoa” để xây dựng ngôi nhà hòa bình, phát triển.

Đạo học và nhân tài là cơ sở cho sự thịnh vượng

Bài “Trú Ngô Châu” (Dừng ở Ngô Châu) ca ngợi cảnh đẹp, trù phú, giàu có của miền quê thanh bình: “Họa đống chu liêm mãn thị lâu” (Cột vẽ, rèm đỏ, tràn ngập các tòa lầu). Ngẫm cảnh nước bạn, ngẫm về quê mình, ngẫm về xa xưa, hai câu cuối mở ra một trường liên tưởng: “Kiều tưởng anh hiền chung dục địa/ Uyên uyên viễn xứ xí tiền tu” (Ngẫm xa về mảnh đất sinh ra bậc anh tài/ Nguồn đạo học xa xưa, ngưỡng mộ người xưa xây dựng).

Ngô Châu thuộc Quảng Tây, ngược mấy nghìn năm trước vốn thuộc Bách Việt (thời Triệu Vũ Đế). Mà nay… Câu thơ thoáng một chút tiếc nuối ngậm ngùi kín đáo. Đất Ngô Châu cũng sinh ra Sĩ Nhiếp (Thứ sử Giao Châu), người có công truyền bá chữ Hán vào Nam Việt (được tôn xưng “Nam Giao học tổ”). Một ý nghĩa toát ra: muốn giàu có phải có sự học hành. Đạo học và nhân tài là cơ sở cho sự thịnh vượng.

Muốn có tài năng phải có nhiều sách

Trong tập “Tiêu Tương bách vịnh” (Trăm bài về sông Tiêu Tương) nhà thơ tìm đến các bậc tiết tháo đời xưa. Với Giả Nghị: “Bình sinh tôi thích đọc Tân thư/ Không a dua theo thói đời/ Gần đây cầm cờ đi sứ/ Lan man tìm đến nơi cũ Thái phó Giả Nghị”. Giả Nghị (200 - 168 TCN) học giỏi tài cao. Năm 22 tuổi có tác phẩm nổi tiếng “Trị an thư” đề xuất cải cách chính trị theo đường lối an dân tiến bộ. Rất tiếc, Hán Văn đế không trọng dụng. Đến Hoài Vương biết đến, cũng chẳng được bao lâu.

Giả Nghị chết sớm (năm 33 tuổi) để lại bộ “Tân thư” (10 quyển) giá trị mà Lê Quý Đôn đã nói (Bình sinh tôi thích đọc Tân thư). Quý Đôn nhắc nhiều đến Giả Nghị, ngoài sự kính trọng, còn là một sự thấu hiểu, thấu cảm, đồng cảm. Như bổ sung cho quan niệm về một nền chính trị tiến bộ phải biết coi trọng nhân tài, mà muốn có nhân tài phải có sách.

Trong bài số 74 trong “Tiêu Tương bách vịnh”, nhà thơ ca ngợi: “Hồ Nam hưu thị danh thư viện/ Bí khởi nhân văn ngưỡng cổ hiền” (Hồ Nam có thư viện danh tiếng/ Làm cho văn nhân có lòng ngưỡng mộ tiền nhân). Thư viện Nhạc Lộc nổi tiếng ở Hồ Nam (một trong bốn thư viện lớn nhất Trung Quốc thời xưa), như trong bài, Quý Đôn ca ngợi là “Dương dương huyền tụng thế tranh truyền” (Vang tiếng giảng sách, tiếng đàn, người đời tranh nhau truyền tụng). Nhà thơ đã gián tiếp nêu ra một quy luật phát triển: sách vở (văn hóa đọc) là cơ sở đầu tiên để có nhân tài!

Đối thoại với bạn bè - Khiêm cung cởi mở, tôn trọng, bản sắc

Với bạn bè Trung Quốc, Lê Quý Đôn có cảm tình đặc biệt với ông Tra Kiệm Đường, Thái thú phủ Thái Bình, người đích thân đưa thuyền đón sứ đoàn ta với thái độ nồng hậu, chân tình. Nhà thơ có nhiều thư từ trao đổi, thù tạc và thơ riêng ca ngợi tài năng cốt cách hào phóng của ông.

Ở đây xin giới thiệu bài tiêu biểu nói về bạn bè văn nhân làm quan người Trung Quốc nhưng nổi rõ phong cách, ý tứ, quan niệm của Lê Quý Đôn, bài “Thứ vận đáp Liễu Châu Kinh lược Cốc Khê” (Họa vần đáp Kinh lược Liễu Châu Cốc Khê): “Gặp nhau cùng chén rượu vàng/ Phóng khoáng tấm lòng nói chuyện mười châu/ Về văn học, thẹn chỉ vẽ được con phượng trắng/ Với đạo, ông nhẹ bước theo trâu xanh/ Yến đường, cảnh tiên tươi thắm như tranh vẽ/ Núi non Việt Điện xanh biếc bồng bềnh trên sông/ Dọc đường, cuộc du ngoạn thấy nhiều cảnh đẹp/ Người chí khí ngang dọc trời thu”. Nội dung bài cho biết vị quan Kinh lược Liễu Châu hiệu là Cốc Khê rất quý bạn (cùng nhau uống rượu vàng), có tặng Quý Đôn bài thơ “phần nhiều phóng khoáng”.

Thơ đi sứ của Lê Quý Đôn! -1
Hình ảnh chuyến đi sứ ngày xưa!

Quý Đôn có thơ đáp lại, tự nhận mình văn chương tầm thường, còn Cốc Khê thì thoát tục “nhẹ bước theo trâu xanh” tức nhẹ nhàng theo Lão Tử. Tại sao lại có cảnh “Núi non Việt Điện xanh biếc bồng bềnh”? Việt Điện chỉ hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây vốn thuộc Bách Việt xưa. Một thoáng tự hào. Một chút suy tư. Một sự ngậm ngùi về quá khứ. Bao nhiêu ẩn ý trong hai chữ “Việt Điện” ấy! Nhưng kết bài thì bừng lên một khí thế mạnh mẽ trong hiện tại: “Hành nhân ý khí chính hoành thu” (Người chí khí ngang dọc trời thu). Ba thanh trắc trong bản phiên âm (ý khí chính) giữa câu nổi lên như ngọn núi cao vậy. Một chủ thể trữ tình Quý Đôn hiện lên mạnh mẽ, tự tin.

Lê Quý Đôn còn chuyện trò trực tiếp hoặc theo lối “bút đàm” với sứ thần nhiều nước khác, nhưng để lại ấn tượng sâu đậm là với các bạn bè Triều Tiên trong mối quan hệ chân tình, bình đẳng, quý trọng. Xin giới thiệu bài “Giản Triều Tiên quốc sứ Hồng Khải Hy, Phó sứ Triệu Vinh Tiến, Lý Huy Trung” (Viết gửi Chánh sứ Triều Tiên Hồng Khải Hy, Phó sứ Triệu Vinh Tiến, Lý Huy Trung).

Lời đề từ bài thơ rất dài, theo lối bang giao khiêm cung, xin trích một đoạn (dịch): “Tôi kiến thức hẹp hòi, được sung làm bồi thần mang ngọc chương đến cung khuyết. Sứ quân từ xa đến, tôi may được gặp trong cuộc lễ tân. Vừa mới tiếp kiến trong cuộc đàm luận đã thành đôi bạn thân thiết… Tình bạn hữu không chỉ là vâng nghe, bèn gửi bài thơ luật vụng về, mong ở nơi đất khách được đón bằng đôi mắt xanh, để không còn cảm giác cách xa Tề Sở…”.

Bài thơ như sau: “Doanh hải đông nhai các nhất phương/ Tề xu Bắc địa tác quan quang/ Tản Viên khải tự Tùng Sơn tú/ Áp Lục ưng đồng Nhị Thủy trường/ Lục tịch dĩ lai đa học vấn/ Cửu trù nhi hậu cánh văn chương/ Lữ hoài tịch diệp như hoa phiến/ Tân hướng xuân phong vị triển dương” (Bờ đông biển cả mỗi nước một phương/ Cùng đến xem phong cảnh đất phương Bắc/ Núi Tản Viên đẹp như núi Tùng Sơn/ Sông Áp Lục có lẽ dài như sông Nhị/ Từ khi có Lục kinh có nhiều tài năng học vấn/ Từ Cửu trù về sau càng nổi văn chương/ Tình lữ khách xếp chồng như nếp quạt hoa gấp lại/ Hướng về gió xuân được mở tung).

Theo các ghi chép, nhân sứ bộ Triều Tiên mời tiệc sứ bộ An Nam (tại Yên Kinh) và tặng các quà quý như thuốc, quạt giấy (đặc sản văn hóa Triều Tiên), Lê Quý Đôn làm thơ cảm ơn. Dễ thấy tinh thần của bài là mong mỏi sự gắn bó gần gũi giữa hai quốc gia, tuy nước phía Đông, nước phía Nam nhưng “đồng văn, đồng chủng” (cùng văn hóa Nho giáo, dùng chữ Hán). Còn toát lên tinh thần tự chủ: mỗi nước một phương cùng đến tham quan đất phương Bắc.

Triều Tiên và An Nam đều có cảnh đẹp núi rộng sông dài, hùng vĩ, nên thơ: “Núi Tản Viên đẹp như núi Tùng Sơn/ Sông Áp Lục có lẽ dài như sông Nhị”. Hai nước lại chung “Lục kinh” (sách kinh điển Nho gia: Thi, Thư, Lễ, Dịch, Thu, Nhạc); “Cửu trù” (chín điều cơ bản cai trị thiên hạ trong “Kinh Thư”). Hai câu cuối rất tinh tế, mượn hình ảnh cái quạt gấp lại, hướng về gió xuân thì nở tung (như hoa) ca ngợi tình bạn giao hảo hai nước vui vẻ như đón gió xuân hòa bình, hữu nghị, thân thiện nồng ấm!

Qua trước tác, cho thấy Quý Đôn gặp gỡ nhiều sứ thần, nhiều văn nhân, trí thức nổi tiếng, cùng nhau bàn luận nhiều vấn đề sử học, triết học, văn học, nông học... Ông phải đọc thật nhiều các sách Trung Quốc nói về Triều Tiên, Ấn Độ, Nam Dương, Ba Tư… Đọc các sách Trung Quốc nói về phương Tây hoặc dịch từ sách phương Tây. Kiến thức tích lũy thành học vấn làm nền tảng “bất biến” để ứng với cuộc sống muôn nẻo “vạn biến”. Cuộc đời và sự nghiệp đồ sộ, lớn lao của nhà “bách khoa toàn thư” Lê Quý Đôn thật xứng đáng vinh danh Danh nhân văn hóa thế giới.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).