Thơ ca trong mắt ai

Đọc “Bình thơ” của Vũ Nho, NXB Hội Nhà văn, 2015.

Người say đắm thơ ca

Nhiều độc giả và bạn bè trong văn giới thường gọi vui Vũ Nho là “ông bình thơ”. Ông vốn là nhà giáo bậc đại học, là công chức ở Bộ Giáo dục - Đào tạo, trải nghiệm nhiều trong môi trường giáo dục và không gian trường học, là người say đắm văn chương, đặc biệt thơ ca. Ông là người viết blog (vunhonb.blogspot.com) cần mẫn được nhiều cư dân mạng (đặc biệt trong ngành giáo dục) chia sẻ.

Ở tuổi thất thập nhưng mọi người đều thấy sức đi, sức nghĩ, sức viết (và cả sức nói nữa) của ông thật đáng nể trọng. Riêng tôi có cái cảm giác trong con người này lúc nào cũng có lửa, cứ như là một “hỏa diệm sơn”. Và rất khâm phục ông trong im lặng.

Tập “Bình thơ” của Vũ Nho nhận được tặng thưởng của Hội đồng Lý luận, phê bình Văn học nghệ thuật Trung ương năm 2015. Thêm một thông tin để độc giả xa gần biết sức lao động nghệ thuật tiềm tàng của Vũ Nho khi ông vừa cho ra mắt một tác phẩm mới tinh “Từ Kim Vân Kiều đến Truyện Kiều - So sánh và Bình luận” (NXB Hội Nhà văn, 2016).

Lại thêm một bằng chứng về tình yêu thơ ca của Vũ Nho. Trước “Bình thơ”, Vũ Nho đã sở hữu “Thơ chọn và lời bình” (2 tập), “Đi giữa miền thơ” (3 tập), “Trần Đăng Khoa thần đồng thơ ca”, “Thơ và dạy học thơ”,  “Bình thơ”. Có thể nói Vũ Nho là một “lão nông tri điền” cần mẫn cày cấy, gieo trồng và thu hoạch trên cánh đồng thơ ca. Nếu nói vui như ngôn ngữ thời hiện đại thì thơ ca là “một phần tất yếu” của đời sống tinh thần Vũ Nho!

Tinh thần thực tiễn của bình thơ

Tập “Bình thơ” gồm 126 bài, được viết trọn trong vòng 30 năm (1986-2015). Trong tập sách này tôi thấy Vũ Nho đã mở những “chiến dịch” tập trung cho ca dao Việt (11 bài), Chủ tịch Hồ Chí Minh (7 bài), thần đồng thơ Trần Đăng Khoa (11 bài) - coi đó là những “văn sản” dân tộc từ truyền thống đến hiện đại cần được quan tâm thấu đáo. Ở đây sáng ra một vấn đề là tác giả đã tránh được sự lặp lại chính mình khi đi sâu vào một hiện tượng thơ ca. Chẳng hạn trường hợp Trần Đăng Khoa.

Tác giả khi thì bình thơ trực tiếp những bài thơ hay của thần đồng thơ, khi thì uyển chuyển hướng độc giả đến những góc nhìn khác về hiện tượng thơ ca độc đáo này (qua các bài “Trở lại cơn mưa tuổi thơ”, dưới hình thức đối thoại; hoặc “Trần Đăng Khoa và những người thầy”, dưới hình thức tiểu sử). Nói tinh thần thực tiễn của việc bình thơ của Vũ Nho chính là vậy.

Tinh thần thực tiễn của việc bình thơ còn khúc xạ qua việc tác giả lựa chọn bình giá những hiện tượng thơ ca (tác giả, tác phẩm) gắn với việc dạy và học văn ở nhà trường phổ thông (và có thể cả ở bậc đại học). Điểm qua sẽ thấy những gương mặt thơ ca quen thuộc với học sinh các cấp: Từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Tú Xương đến Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Thế Lữ, Nguyễn Đình Thi…

Tác giả cũng không quên các gương mặt thơ đương đại như Hoàng Cầm, Giang Nam, Thanh Hải, Nguyễn Khoa Điềm, Thu Bồn, Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh, Nguyễn Duy, Y Phương, Phạm Đình Ân, Nguyễn Trọng Hoàn,… Những tác giả này có thơ được đưa vào sách giáo khoa (Tiếng Việt hoặc Ngữ văn) các cấp. Vũ Nho đồng thời có ý thức mở rộng biên độ tiếp nhận thơ ca khi “chấm” những nhà thơ đương đại khác mà tên tuổi trở nên quen biết với độc giả như Vũ Quần Phương, Phan Thị Thanh Nhàn, Hoàng Nhuận Cầm, Đoàn Thị Lam Luyến, Trần Hòa Bình, Inrasara,…

Tuy không phải là “sở trường” nhưng Vũ Nho cũng mạnh dạn bình thơ các nhà thơ nước ngoài mà độc giả Việt Nam yêu mến như Đỗ Phủ (Trung Quốc), C. Ximônôp (Nga), J. Fossenbell (Mỹ). So với việc bình thơ của các nhà thơ Việt Nam, khi bình thơ của các nhà thơ nước ngoài, rõ ràng Vũ Nho đã lượng được sức mình, biết rõ sở trường sở đoản của mình, nên đã cẩn trọng, từ tốn và cầu thị trên từng câu chữ.

Riêng bài thơ “Đợi anh về” của C. Ximônôp, Vũ Nho bình có vẻ tự tin hơn, vì hai lẽ: Ông thạo tiếng Nga, tự tay mình dịch từ tiếng Nga, và “trưng” ra bản dịch của Tố Hữu, vẫn được xem là một trong những bản dịch bài thơ ra tiếng nước ngoài hay nhất để đối chiếu. Lẽ thứ hai, thế hệ như ông và tôi đã trải qua chiến tranh, như “Thép đã tôi thế đấy”, nên có thể thấm thía hơn thế hệ bây giờ về những nỗi niềm buồn vui, được mất, về những chia lìa, li tán bởi chiến tranh.

Hiểu được cái giá của cả nước mắt và nụ cười. Việc bình thơ của Vũ Nho, riêng tôi thấy, thấm nhuần tinh thần thực tiễn, và có thể nói là thực dụng, không sao. Tôi không thấy ông bỏ công bình thơ kiểu “trên trời”, nghĩa là tùy hứng, nghĩa là đôi khi không biết mũi tên bắn ra sẽ đi về đâu. Viết cái gì ông cũng gắn với mục đích nhằm nâng cao năng lực và trình độ dạy và học văn trong nhà trường. Tất nhiên. Nhưng còn có cả tham vọng xây dựng một định hướng thẩm mỹ tích cực trong việc tiếp nhận văn chương nói chung, thơ ca nói riêng. Nói cách khác là có thiện tâm góp vào công cuộc xây dựng một văn hóa đọc văn chương cho người Việt hôm nay.

Dung dị bình thơ

Như người ta thường nói, trong lĩnh vực sáng tác, điều quan trọng không phải là viết về cái gì mà là viết như thế nào. Lại vẫn cổ nhân nói “văn là người”. Tôi biết, Vũ Nho không phải là người “nói không với lý thuyết”. Nhưng khác với các thế hệ trẻ, ông đã có vẻ như giấu lý thuyết vào một nơi kín đáo nhất, chỉ viết chủ yếu bằng cảm xúc, bằng sự tri nhận tác phẩm trong vẻ đẹp giản dị nhất của nó.

Có vẻ như ông theo cái triết lý “Cái Đẹp là sự giản dị”. Con người ông quả thực là giản dị, không như ai đó nhận xét là đơn giản. Ông lấy sự chân thành, chân tình (kể cả khi nóng nảy) làm phép ứng xử. Ông nghiêng về truyền thống, nhưng không cũ như ai đó nghĩ. Tôi cứ suy nghĩ rất lâu và tự trả lời vì sao những bài bình thơ đầu tiên của ông lại về ca dao? Mở đầu tập “Bình thơ” là 11 bài bình ca dao Việt.

Có lẽ ông muốn đi từ truyền thống đến hiện đại?! Anh bạn đồng nghiệp Nguyễn Xuân Kính có viết một cuốn “Thi pháp ca dao”, có tặng tôi và tôi đã đọc tương đối kỹ. Vậy nên khi đọc 11 bài bình ca dao của Vũ Nho, tôi mới nghĩ, hóa ra là cái ông này đã nghiền ngẫm rất kỹ về ca dao từ góc nhìn thi pháp. Nhưng mà nhuần nhuyễn đến độ như thể là chưa hề đọc lý thuyết.

Trong giới khoa học, đặc biệt giới nghiên cứu lý luận phê bình văn học, có một khuynh hướng phức tạp hóa những vấn đề vốn giản dị. Sau khi đọc 11 bài bình ca dao của Vũ Nho, không riêng tôi mà nhiều độc giả  thú vị ở chỗ thấy ca dao chính là một “con mắt thơ” cổ truyền. Cái cổ truyền ấy lan tỏa, thấm nhuần cả vào thơ hiện đại như cách nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn viết: “Các cụ ông say thuốc/ Các cụ bà say trầu/ Còn con trai con gái/ Chỉ nhìn mà say nhau”.

Từ thẩm bình ca dao mà “với” sang cả thơ đương đại, thì ắt người viết bình thơ phải có con mắt xanh. Phải chăng là nhờ “con mắt ca dao”(?!) Cứ dung dị như thế mà từng bước Vũ Nho chinh phục độc giả ngày nay vốn rất thông minh nhưng khó tính và đôi khi thậm chí… đỏng đảnh. Tiếp đến 11 bài bình về thơ Trần Đăng Khoa, Vũ Nho vẫn cứ duy trì một phong thái như thế - từ tốn đi sâu vào đối tượng, từ tốn bóc gỡ những tầng nghĩa của tác phẩm, từ tốn giúp độc giả thẩm thơ trong những biểu hiện tinh vi, linh diệu nhất của nó.

Không thể thô bạo và vội vàng với thơ ca được. Vũ Nho, có vẻ khác người, cứ nhẩn nha như thế khi bình thơ, nên đôi khi làm người thích sống nhanh sốt ruột. Vũ Nho cứ dung dị như thế khi bình thơ nên đôi khi làm ai thích thời trang thấy khập khiễng.

Bình thơ… nếu như

Người ta thường nói vì hai chữ “nếu như” đôi khi còn có thể thay đổi cả lịch sử huống hồ văn chương, thơ ca. Trong số 126 bài bình thơ, có lẽ phải nói thẳng, có một số bài nếu in riêng rẽ trên báo chí thì được. Nhưng đưa vào một tập sách thì lại thấy thiếu cố kết. Vì một cuốn sách phải có cái “cấu tứ” của nó ở tầm vĩ mô. Một tác phẩm bình văn không phải là một tập hợp đơn thuần có tính số học, cơ học. Hay là một số cộng (+) của toán học. Nó là một tổ chức chặt chẽ từ ý đồ, từ nội dung, từ dữ liệu đến tuyển chọn, bài binh bố trận.

Tôi không nói cụ thể là nên bỏ bớt những tác giả nào, vì như thế e chạm đến tự ái cá nhân. Mà con người ta đã tự ái thì ghê gớm lắm. Bớt đi 1/10 số bài, cuốn sách sẽ gọn gàng đẹp đẽ hơn nhiều. Giống như người phụ nữ đi SPA. Rồi sẽ thon thả ra, sáng rỡ ra. Đúng thế chăng?!

Hà Nội, tháng 5 năm 2016

Bùi Việt Thắng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).