Thơ ca không thể đứng ngoài thế giới

Đọc "Cộng ta vào thế giới", thơ Phạm Thị Phương Thảo, NXB Hội Nhà văn, 2016.

1.Cách nay ba năm, tôi đã viết bài "Vẻ đẹp thanh tân trong thơ Phạm Thị Phương Thảo" (in trên báo Người Hà Nội) nhân dịp nhà thơ ra mắt tập thơ thứ năm có tựa "Mắt sóng" (Nxb Hội Nhà văn, 2013). Cuối năm 2016, tôi lại vui mừng được nhà thơ tặng tập thơ thứ 8 có nhan đề quảng đại hơn "Cộng ta vào thế giới". Nghĩa là mỗi chúng ta không thể đứng ngoài thế giới này. Cũng có nghĩa là thơ ca không thể đứng ngoài thế giới này.

Từ "Mắt sóng" đến "Cộng ta vào thế giới", thơ Phạm Thị Phương Thảo đã giàu hơn cảm xúc công dân, đã nới rộng nhãn giới, đã "nóng" hơn tính cập nhật thời sự. Như ai đó nói đã rổn rảng hơn, xum xuê hơn chất đời. Đúng thế. Xin quý vị đọc những bài thơ "Cộng sinh", "Giấc mơ bay của loài cá", "Đôi mắt Syria", "Chào Ôbama", "Lửa thức trong nghĩa trang Trường Sơn", "Ngược biên cương",…

Riêng tôi thích bài thơ "Chào Ôbama" (viết trước ngày Tổng thống Ôbama đến thăm Việt Nam, 22-5-2016). Đúng là thời sự. Nhưng đằng sau thời sự là những lời cầu nguyện cho Hòa bình vì "Chúng tôi cần hòa bình, hạnh phúc và yêu thương/Cần trẻ em phải được đến trường/Cần một thế giới an vui và cả sự an toàn/khi bước chân ra cửa…". 

Nhà thơ Phạm Thị Phương Thảo và bìa cuốn "Cộng ta vào thế giới".
Nhà thơ Phạm Thị Phương Thảo và bìa cuốn "Cộng ta vào thế giới".

Thế giới cần hòa bình. Con người cần thân thiện, khoan dung, khoan hòa. Vì thế mà Tổng thống Mỹ B. Ôbama được đón chào nồng nhiệt ở Việt Nam. Bởi vì ông có "Nụ cười thân thiện/ Sẽ mang về nước Mỹ niềm tin/ Cùng cả sự lãng mạn có thể còn hiếm hoi/ Trong sắc tím bằng lăng rợp trời xanh tháng Năm Hà Nội". Ngày trước Bằng Việt đã viết về "tình yêu và báo động". 

Bây giờ Phạm Thị Phương Thảo viết về sự bất an, bất ổn của cuộc sống mỗi khi con người "bước chân ra cửa". Ngày trước nếu "ra ngõ gặp anh hùng" thì ngày nay "ra cửa gặp bất an". Nói thế có quá bi quan, yếm thế? Không! Không hề bi quan hay yếm thế. Đó là tâm thế thời đại do những "trục trặc" cả khách quan, cả chủ quan gây nên (nào là thiên tai, nào là nhân tai). 

Tháng bảy vừa rồi, tôi tham gia cùng đoàn nhà văn đi thực tế Hà Tĩnh và Formosa. Đó là chuyến đi có một không hai, tôi nghĩ. Đầy ắp trải nghiệm. Ấn tượng vui buồn đan xen. Muốn viết vì con chữ bật nảy ra từ đời sống. Trước đó vào tháng sáu, Phương Thảo viết "Giấc mơ bay của loài cá". Những câu thơ từ gan ruột về một "mùa hè bật khóc" của Phương Thảo níu giữ sự đồng cảm của nhiều người. 

Vì sao lại có "giấc mơ bay của loài cá"? là vì "Cá chết vì cá không biết bơi". Hai câu kết tạo nên cái "tứ" chốt lại, nhưng thực ra là mở ra những liên tưởng sâu xa: "Loài người thật bao dung/ Khao khát cả giấc mơ bay của cá". Thế mà, qua sự cố môi trường thế kỷ này, chúng ta đau đớn và căm phẫn nhận ra có những kẻ tự xưng là người Việt, nhưng hoàn toàn vô cảm với nhân dân cần lao và vĩ đại.

Như đã nói ở trên, thơ Phương Thảo ở tập mới này đã đầy ắp thời sự. Nhưng thời sự của muôn đời, không phải thời sự của "moment". Chẳng hạn bài thơ "Cộng sinh", theo tôi đã nâng thơ Phương Thảo lên thời sự - triết luận. Nhưng "cộng sinh" bắt đầu từ đâu? 

Tôi thấy, cộng sinh bắt đầu tuân theo quy luật của tự nhiên: "Mùa xuân cộng anh vào em/ Cây đơm nụ". À, hóa ra lâu nay chúng ta hay phản tự nhiên. Nên đã có lúc nhận đủ hậu quả. Mùa thì bao giờ cũng bắt đầu từ xuân, rồi mới đến hạ, tiếp thu, vào đông. Thế mà chúng ta đã có lúc đảo lên thành mùa đông đi đầu!? Vì thế, sau màu xuân thì "Mùa hạ cộng anh vào em/ Biển dâng mắt sóng/ Hãy cộng chúng ta vào thế giới này". 

Thế giới ngày nay đã trở thành "thế giới phẳng". Trái đất đã trở thành "ngôi nhà chung" của nhân loại gần 7 tỷ người. Chỉ có những kẻ như ếch ngồi đáy giếng mới nhầm tưởng ở nhà "nhất mẹ nhì con". Phương Thảo, trong bài thơ này, và cả trong tập thơ này, bỗng vụt lớn lên khi đưa thơ từ trực quan sinh động, thiên về trực cảm ở giai đoạn đầu, nay lấp lánh chất trí tuệ: "Chúng mình đang hòa nhập/ Bởi giữa anh và em/ mỗi người đều là một vũ trụ bé nhỏ/ Ta sống trong thế giới/ ngập tràn yêu thương cùng ghét bỏ (…)/ Hãy cộng sinh vào thế giới này/ Dẫu trái đất "ba phần tư nước mắt"/ Cùng thế gian cô đơn, hạnh phúc, thăng hoa, khổ đau và bất hạnh/ Cùng cơm áo, chiến tranh, tôn giáo/ Sắc tộc, di cư/ khủng bố, môi trường và thiên tai (…)/ Đừng thánh thót ngợi ca và ngu ngơ giả dối/ Ta Giang tay cộng ta vào thế giới". 

Phương Thảo, tôi nghĩ, đã vượt thoát khỏi những "thánh thót ngợi ca" và tệ hại hơn nữa là "ngu ngơ giả dối". Nó như căn bệnh khó bề cứu chữa của một "bộ phận không nhỏ" trong đông đảo đồng loại của chúng ta trên dải đất hình chữ S.

Công bằng mà nói, những điều Phương Thảo viết bằng thơ, như tôi vừa bình giá trên, không có ý nghĩa phát kiến, đi tiên phong... Cái hay là Phương Thảo nói theo cách của mình, theo cái slogan của Viettel "Hãy nói theo cách của bạn".

2. Nếu thơ Phương Thảo giai đoạn đầu chan chứa "vẻ đẹp thanh tân" (cách  thẩm định này là độc quyền… của tôi) thì ở tập thơ thứ tám này, có thể nói không quá, đã ngấp nghé nâng lên chất "thiền" - nghĩa là phiêu diêu hơn, tâm linh hơn. Nói thế có vẻ to tát quá chăng? Hãy đọc nhan đề một số bài thơ sẽ thấy điều chúng tôi nêu ra là có cơ sở thực tiễn:  "Thiền trà", "Kiếp lá", "Giới hạn", "Vẻ đẹp của cô đơn", "Độc ẩm Tân Cương", "Vũ hội sen",… 

Bình thường thì mấy ai là phụ nữ sành trà. Hơn thế còn biết được tường tận hai chữ Trà Đạo như nhà văn Nguyễn Tuân đã tâm đắc và trịnh trọng dùng trong truyện "Chén trà sương" (in trong "Vang bóng một thời", 1940). Tôi hình dung, Phương Thảo không phải cố, cũng không làm dáng tỏ ra mình biết thưởng thức Trà Đạo. Có thể chị cũng là "dân chơi" của món ẩm thực này. 

Thì đây, rõ ràng là người thơ này say sưa với "Thiền trà", "Độc ẩm Tân Cương", "Người đẹp xứ chè". Nếu có đến ba bài thơ viết về trà từ góc nhìn văn hóa thì có thể xếp Phương Thảo là "đệ tử" của nhà văn kỳ tài Nguyễn Tuân từ trước tới nay được coi là duy nhất viết hay về Trà Đạo. Viết về Thiền trà, như cách của Phương Thảo, tôi thấy thơ chị rất thiên nhiên. Chúng ta đang ngu ngốc cắt mình ra khỏi tự nhiên, thậm chí chống lại tự nhiên, chưa kể là kẻ tàn phá tự nhiên dã man nhất. 

Trong bài thơ Thiền trà có hai nhân vật trữ tình Anh và Tôi. Anh thì như một nghệ nhân trà, đang say sưa trong: "Sen nồng ấm không gian/ Tháng Bảy mở ra từng búp gió/ Nghệ nhân trà". Anh đang say sưa trong cái bầu không khí đặc quánh Trà Đạo: "Anh đang nói say sưa về độc ẩm/ song ẩm và quần ẩm/ Gió khe khẽ hát trên vai anh/ Vũ trụ bỗng trong lành/ Hai tay nâng chén trà diệu nghệ/ Mây trắng nghiêng qua đầu anh/ Bay trong lưng chén/ Ngát thơm…". 

Còn nhân vật Tôi thì: "Còn tôi/ Uống từng hớp nắng/ Mơ chồi lá xanh/ Lặng lẽ/ Quán chiếu mình/ Tháng Bảy/ Nở bung từng búp gió". Một bài thơ ngắn chỉ có 17 dòng mà hội tụ đủ cả cả thiên nhiên và con người. Những câu thơ sau đã phảng phất chất "thiền": "Còn tôi/Uống từng hớp nắng/Mơ chồi lá xanh/Lặng lẽ/ Quán chiếu mình". Câu thơ "Quán chiếu mình" rất khó tường giải. Chỉ có thể cảm hội mà thôi. Rõ ràng là "ý tại ngôn ngoại" theo đặc trưng của thơ ca.

Phương Thảo trong "Cộng ta vào thế giới" rõ ràng có ý thức tự làm mới thơ mình để trình làng một diện mạo mới, một giọng điệu mới. Nhiều độc giả thực sự ngạc nhiên về một nỗ lực có thể nói là bất ngờ khi người thơ Phương Thảo bỗng một hôm mơ giấc mơ đại bàng. Ai bảo phụ nữ đẹp chỉ có yểu điệu thục nữ, chỉ là phái yếu, chỉ để làm đẹp? Thì xem đây Phương Thảo mơ thành…đại bàng (đã mơ là mơ lớn như thế, chứ không chỉ là bồ câu, vành khuyên, họa mi…). 

Trong bài thơ "Chim đại bàng và chiếc mỏ" ta thấy: "Hoàng hôn đuổi theo tôi nơi con đường ven suối/ Tôi đuổi theo bóng dáng một con chim khổng lồ/ Có phải loài đại bàng trên mỏ ngậm cành khô/ Ngạo nghễ đứng nghỉ chân trên đỉnh núi?/". Người thơ Phương Thảo bỗng liên tưởng việc đại bàng "tự nhổ móng lột xác mình" để “tự làm mới, chờ phút tái sinh". Một phụ nữ đẹp bỗng nhiên trào dâng cái cảm xúc mạnh mẽ và có thể nói là hùng vĩ: "Tôi nhìn lên đỉnh núi/ Háo hức như một đứa trẻ thơ/ Ngước mắt, ngước mãi lên/ Nhìn bầu trời vọng vang như tiếng hát/ Rưng rưng khát khao và tôi khóc". Viết như thế, với một phụ nữ, quả là hiếm. Hiếm nên quý.

45 bài thơ trong "Cộng ta vào thế giới" của Phương Thảo cho phép độc giả hình dung về một bước ngoặt trong thơ của một người yêu tha thiết thơ, đam mê thơ, sống hết mình với thơ (có khi cả trong giấc mơ!?). Đây rõ ràng không phải là tác phẩm thơ cuối cùng của Phương Thảo. Có thể suy nghiệm về con đường thơ của chị là còn dài rộng. Nhưng với mỗi người thơ thì có những dấu ấn quan trọng. 

Theo tôi thì "Cộng ta vào thế giới" là một dấu ấn quan trọng trong hành trình thơ của Phương Thảo. Nhưng kể cả là dấu ấn thì đôi khi vẫn lộ ra những khiếm khuyết khó lòng tránh khỏi, với bất kỳ ai, không riêng gì Phương Thảo. Đó là sự không đều tay. Nên đôi khi chung chiêng. Thậm chí chông chênh. Nhưng thôi, nói như cổ nhân, "Có hoa mừng hoa có nụ mừng nụ". Mà thơ Phương Thảo, riêng tôi thấy, có cả hoa, có cả nụ đấy chứ.

Hà Nội, tháng 12-2016

Bùi Việt Thắng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).