Thêu nắng vào chiều...

Đọc “Nắng thổ cẩm”, thơ Phạm Thị Phương Thảo, NXB Thanh niên, 2016.

1.“Nắng thổ cẩm” là tập thơ thứ 8 của Phạm Thị Phương Thảo (chưa kể một tập thơ viết riêng cho thiếu nhi). Năm 2016, chị nhận giải Ba của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam cho tập thơ “Cộng ta vào thế giới”.

Trong tập thơ mới này, Phạm Thị Phương Thảo hướng ngòi bút viết nhiều về vẻ đẹp của người, cảnh và tình các dân tộc anh em HMông, Mường, Thái, Dao, Tày… Cứ  đọc những địa danh ghi cuối bài thơ sẽ thấy nhà thơ thả hồn mình chìm ngập giữa rừng núi bao la một dải từ Lào Cai, Lai Châu, Hà Giang, Hòa Bình đến Thái Nguyên, Sơn La, Cao Bằng, Tuyên Quang...

Đọc thơ Phạm Thị Phương Thảo lại nhớ câu chỉ dẫn của nhà văn Nguyễn Tuân, đại ý, công việc của người sáng tác gói gọn trong ba chữ “đi - đọc - viết”. Một phụ nữ chịu khó đi. Một người sáng tác chịu khó đọc. Đi để trải  nghiệm. Đi để nuôi dưỡng cảm xúc. Đi để tìm “tứ” cho thơ. Đi để tường tận vẻ đẹp của hoa tam giác mạch. Đi để nghe tiếng sáo gọi bạn tình HMông. Đi để nghe được tiếng chim kêu da diết ở Ô Quý Hồ. Đi để không chỉ biết mà quan trọng hơn là cảm. Đi để nhập hồn vào thiên nhiên. Đi để sống đời sống thứ hai ngoài bản thể.

“Nắng thổ cẩm” cho thấy một không gian – thời gian thơ mới mẻ của Phạm Thị Phương Thảo. Ở đó có một cơ hội để ngòi bút của người thơ trở nên phóng khoáng hơn, hào hiệp hơn, dốc lòng hơn với đời, với người và quan trọng hơn là với tự nhiên. Nói vậy để biết thơ Phạm Thị Phương Thảo ngày càng nhuần nhị giữa “hướng ngoại” và “hướng nội”. Nghĩa là ngoại cảnh với nội cảm trở nên gắn bó, xoắn xuýt, nâng đỡ nhau cùng phát lộ.

2. 45 bài thơ trong “Nắng thổ cẩm” (được viết trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến 2016) của Phạm Thị Phương Thảo ngời lên những sắc màu nào? Dĩ nhiên trước hết là “sắc nắng”. Nhưng không phải nắng đồng bằng mênh mang. Cũng không phải nắng nơi chốn thị thành mờ nhòe, nghèn nghẹt bụi ô nhiễm. Cũng không phải nắng miền duyên hải vừa xanh trong vừa chói chang.

Cũng không phải nắng vùng biển đảo mênh mông vô tận. Càng không thấy cái nắng rát bỏng ở vùng “gió Lào cát trắng”. Nắng thì đã mấy ai nắm bắt được trong tay mình. Nhưng với người của núi rừng thì có thể “Em thêu nắng vào chiều/ Cho mùa phơi váy tỏa hương (…)/ Nắng thổ cẩm vẫn rực màu ngũ sắc/ Mùa mùa váy tỏa hương” (“Thêu nắng”).

Hoa tỏa hương thì đã đành. Hương lúa nếp nương tỏa hương thì đã đành. Hoa sữa (và các loài hoa khác) tỏa hương thì đã đành. Nhưng thật hiếm khi thấy “váy tỏa hương” như trong thơ Phạm Thị Phương Thảo. Câu thơ này, tôi nghĩ, chênh vênh giữa “thanh” và “tục”. Nhưng may mắn là đọc xong vẫn thấy “nhã”. Là người hòa mình vào rừng núi bao la và tinh khiết (là nói ở những nơi rừng xưa chưa bị con người tàn sát), nên người thơ cảm được các sắc nắng khác nhau. Nào là “Nắng vàng mật”, “Nắng bạc màu, “Nắng cười râm ran bước chân thổ cẩm”, “Nắng thổ cẩm đọng lưng mùa khô khát”, “Nắng buồn cúi nhặt câu giao duyên xưa cũ”, “Gánh nắng xế đường dài”, “Nắng không biết”, “Nghiêng nắng”, “Nắng Quản Bạ cua tay gió Yên Minh, “Em ngồi vun nắng hoa thổ cẩm”, “Nắng tháng mười chợt lạ”, “Ngút ngát nắng và cỏ gianh tua tủa”, “Trời rất xanh và nắng rất vàng”, “Nắng chiều”, “Vàng nắng lửa triền đồi”, “Có nắng vàng nhảy nhót cùng thảm xuân nở biếc trời xanh”, “Ủ nắng vàng”, “Nắng nhảy nhót trong veo”, “Tỉa nắng vàng”, “Nắng cười”, “Bóng nắng dãi dầu”, “Chân vùi trong bóng nắng”, “Nắng nó say kia rồi”, “Gánh nắng xế đường dài”, “Gùi nắng về nơi ấy”, “Nắng đọng giọt”.

Đó cũng là một cách tôi “đếm nắng” (26 lượt xuất hiện, 26 sắc màu khác nhau) trong tập thơ mới của Phạm Thị Phương Thảo. Vô tình hay hữu tình? Tôi nghĩ là hữu tình. Vì thế thơ Phạm Thị Phương thảo, theo tôi, là thơ hữu tình. Hữu tình vì đa tình. Có thể nói “nắng” tràn ngập, tràn trề, rực rỡ, hân hoan, rộn ràng, xao động trong thơ Phạm Thị Phương Thảo.

Thơ Phạm Thị Phương thảo trong “Nắng thổ cẩm”, nếu nhìn ở một phương diện khác, còn chứa chất vẻ đẹp khỏe khoắn của tự nhiên (đôi khi phồn thực) với những hình ảnh đầy ấn tượng: “Vồng ngực đêm”, “Ngực đồi căng căng đầy”, “Ngực núi xanh vươn gió”, “Ngực núi xanh đan ngực núi trần”, “Ngực chơm chớm nụ hồng”, “Xanh nõn bầu ngực đồi”, “Ta nuốt khan ngọn lửa trong lồng ngực”, “Ngực tràn căng sức trẻ”, “Ngực dốc”, “Ngực đồi căng trào áo cóm”, “Ngực đồi phập phồng gió”.

Phải chăng hình ảnh “ngực” biểu trưng cho sự sống chẳng bao giờ chán nản không chỉ là của cõi người mà cả trong thế giới tự nhiên?! Tôi có cảm giác khi viết những câu thơ chạm đến “ngực” thì nhà thơ hít thở rất sâu, dưỡng khí trong lành của tự nhiên ùa vào, lắng đọng và sau đó bật lên niềm hân hoan sống căng phồng.

Thơ Phạm Thị Phương Thảo, theo tôi, vì thế chứa chất niềm vui sống. Đúng là sự sống chẳng bao giờ chán nản. Nói cách khác đời đã hóa thân vào thơ. Và thơ là hiện thân của đời, lúc nào cũng sục sôi, cuộn chảy. Tôi cứ nghĩ, mỗi lần gặp, Phương Thảo khác nào một núi lửa. Bình thường thì trầm tư, im lìm nhưng một lúc nào đó thì phun trào, bốc hỏa!?

3. Lâu nay chúng ta cứ băn khoăn “Thơ đi về đâu?”, hay “Thơ từ đâu đến?”. Tôi nghĩ vấn đề không đến nỗi rắc rối như ai đó đôi khi bày đặt ra để nhàn đàm. Nhưng mà thơ thì cứ đi theo con đường riêng như nó vốn có. Tôi đọc thấy những bài ca lao động trong thơ Phạm Thị Phương Thảo. Tuyệt nhiên không thấy rên rỉ, não nề, bi quan, bế tắc.

Cũng trong tập thơ này của Phạm Thị Phương Thảo, không chỉ có tràn trề “nắng”, tràn trề “ngực” ở không gian – thời gian miền rừng núi mà còn hiển hiện những con người ít bị thói thị thành khiến cho đôi khi đỏng đảnh, con người còn ít bị nếp nghĩ, nếp sống hiện sinh khiến cho ngày càng thực dụng, vô cảm.

Con người sống giữa thiên nhiên nên bảo tồn được những vẻ đẹp thuộc về bản thể. Đó là những con người của công việc, hay lam hay làm. Công việc khiến họ yêu đời, yêu người. Lao động chân tay tuy nhiều khi vất vả  nhưng lại gắn kết con người với nhau bền chặt hơn, thân ái hơn. Những câu thơ thật hồn nhiên gần với lời ăn tiếng nói của cô thiếu nữ miền sơn cước gieo vào lòng độc giả những tình cảm chân phương, chân thành: “Ô/ Cái mình hết mất sáp thêu rồi mà/ Anh ơi/ Ra chợ mua cho em”.

Ở đây ta thấy con người nói mà như hát. Nói mà như múa. Bởi người con trai và người con gái không phải chỉ có ngồi không mà ngân nga, ngồi không mà nhìn nhau đắm đuối. Họ vừa làm vừa trao gửi tình cảm. Lao động đúng là vất vả. Nhưng lao động là lẽ sống, là niềm vui: “Cuối nhà sàn/ Em ngồi thêu áo váy những mùa ngô/ Nơi đầu hè/ Anh còn thổi sáo bao mùa lúa?” (“Thêu nắng”).

Lao động trong hiện hữu thời gian ban ngày đã đành. Cả trong giấc mơ cũng không thôi ngưng nghỉ công việc. Thật đáng khâm phục khi: “Giấc mơ em gieo hạt/ Đêm mở ra trập  trùng/ Sắc hoa tím lặn trong đáy mắt” (“Mùa tam giác mạch”).

Có lẽ hình ảnh đọng lại trong trí nhớ độc giả về người lao động miền rừng núi thì nhiều. Nhưng tôi dám chắc nếu ai đã hơn một lần lên vùng cao sẽ khó quên cái dáng cặm cụi, nhẫn nại của người phụ nữ “Bao năm rồi vẫn còng lưng gánh núi”. Không phải gánh để rồi dời đi mà là: “Bao năm rồi/ Bóng những người đàn bà trỉa bắp/ Vẫn đổ dài/ Hoàng  Liên…” (“Người đàn bà trỉa bắp”).

Ngày nay hàng hóa ê chề, rẻ rúng, mấy ai còn lưu lại hình ảnh người vợ/ người mẹ ngồi đan áo cho chồng, cho con theo kiểu đan của nàng Bân ngày xưa. Ấy vậy mà trong thơ Phạm Thị Phương Thảo, không phải là sót lại mà vẫn là lung linh một vẻ đẹp như khắc chạm: “Đêm/ Mẹ ngồi đan áo/ Những cuộn len tung tăng nhảy dưới đèn/ Mái cỏ gianh ướt  một đời tần tảo/ Ngoài cửa sổ hoa hồng nở ngập trăng” (“Đồi cỏ gianh”).

4. Trong tập thơ thứ 8 của Phạm Thị Phương Thảo, độc giả nếu có điều kiện đọc chị sát sao, sẽ thấy có nhiều giọng điệu cất lên. Tôi nghĩ, đấy là thể hiện lao động nghệ thuật của người làm thơ. Có lúc thì ướm mình vào nhân vật trữ tình mà thủ thỉ (“Đàn bà HMông”), có lúc thì như nhập vào hai vai diễn (vợ - chồng) mà nói những lời thật thà như đếm (“Nói với vợ ở Khau Vai”), có lúc thì thơ thới cất lên tiếng gọi có vẻ như hoang dã (“Về thôi bố Bản ơi”)…

Nhưng người làm thơ thì càng phải kì công tìm chữ để biểu đạt, để thể hiện ẩn dụ và cảm xúc. Viết như thế này, theo tôi, là có ý thức tìm tòi: “Con đường em mỏng như sợi lanh mềm/ Cheo leo/ Trói lưng anh triền núi”.

Một vài ví dụ như thế để thấy cũng chính nhờ luôn đổi giọng và luôn tìm chữ mà thơ Phạm Thị Phương Thảo ít rơi vào trùng lặp. Tuy nhiên đôi khi cố gắng tìm mà vẫn có thể chưa tới. Vẫn cứ lộ ra sự không đều tay. Khi đọc, riêng tôi, cứ tiêng tiếc. Giá như một vài bài chị dám không đưa vào thì chắc chắn tập thơ sẽ sáng sủa hơn (ví dụ như “Giông lốc”, “Uy lực của núi”). Là vì những bài này nhà thơ mới chỉ chú trọng lập “ý” mà chưa rõ  “tứ”.

Lại nữa, đôi khi có vẻ như phải điệu đà một chút cho đúng phái đẹp. Nhưng đáng tiếc liền rơi vào sáo: “Tôi cúi xuống hôn lên cánh hoa đêm” (Khu vườn đêm hoa trắng). Lại có lúc nhà thơ định dùng điệu nói để cầu cho thơ gần gũi đời sống thực hơn. Nhưng không may lại rơi vào đơn giản (khác với nguyên  tắc mỹ học “Cái đẹp là sự giản dị”) khi viết: “Em người bác sỹ/ Lên với bản Mèo/ Lên với người nghèo/ Nụ cười lấp lánh bay” (“Chiều Mèo Vạc và Em”). Câu cuối dẫu có “bay” lên được đi chăng nữa nhưng cũng không gánh nổi, đỡ nồi ba câu trên…

Vậy là, đọc thơ Phạm Thị Phương Thảo trong “Nắng thổ cẩm”, thật đáng vui mừng thấy nhà thơ vẫn giữ được bầu nhiệt huyết sống, bầu cảm xúc hào hiệp,  chiêm nghiệm, bầu ngẫm ngợi tích cực về quê hương đất nước, nói chung, và một không gian rừng núi nói riêng, giàu có sắc nắng thổ cẩm. Và quan trọng hơn là giàu tình người. Giàu tình yêu cuộc sống. Tôi nghĩ, đó chính là chất mật ong của đàn bà – chất đời của thơ.

Bùi Việt Thắng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).