Đọc "Tôi và làng tôi" của Lê Bá Thự, NXB Hội Nhà văn, 2018

Thêm một lần được trở lại tuổi thơ

Cái kỉ niệm xem chiếu bóng của anh làm tôi nhớ lại tuổi thơ tôi. Cũng náo nức, say sưa. Cũng nghe tiếng loa thông báo của người thuyết minh: "Alô alô. Đội chiếu bóng lưu động số 21 về phục vụ nhân dân xã nhà trong hai tối. Chúng tôi chiếu bộ phim Thượng Cam Lĩnh, phim truyện chiến đấu…".

Tôi rất thích thú khi đọc cuốn sách này của nhà văn, dịch giả Lê Bá Thự. Có khá nhiều lẽ. Thứ nhất là anh cùng trang lứa (hơn tôi 6 tuổi). Thứ hai, anh là người nhà quê Thanh Hóa, tôi cũng là một chú bé nhà quê Ninh Bình. Thứ ba là anh đã từng sống ở nước ngoài (cũng như tôi). Thứ tư - anh là dịch giả (tôi cũng dịch, nhưng ít hơn anh). Và lẽ nữa là anh có sách thường hào phóng tặng tôi. Đọc sách bạn viết tặng là một trách nhiệm mà tôi tự đặt cho mình.

Đọc tập sách này của anh, tôi tò mò muốn biết tuổi thơ của nhà văn Lê Bá Thự có điều gì đáng chú ý? Có điểm gì dự báo là anh sẽ trở thành một dịch giả tầm cỡ sau này? Và thực sự, những dự định ban đầu đã bị tôi nhãng quên. Tôi chỉ còn một nỗi vui sướng, một niềm thích thú là gặp lại tuổi thơ anh, và cũng là tuổi thơ của lứa chúng tôi ở nông thôn một thời đói kém, vất vả, nhọc nhằn nhưng cũng không thiếu những niềm vui hồn nhiên, trong trẻo.

Nhà văn - dịch giả Lê Bá Thự.
Nhà văn - dịch giả Lê Bá Thự.

Cái kỉ niệm xem chiếu bóng của anh làm tôi nhớ lại tuổi thơ tôi. Cũng náo nức, say sưa. Cũng nghe tiếng loa thông báo của người thuyết minh: "Alô alô. Đội chiếu bóng lưu động số 21 về phục vụ nhân dân xã nhà trong hai tối. Chúng tôi chiếu bộ phim Thượng Cam Lĩnh, phim truyện chiến đấu…".

Hồi ấy chúng tôi chỉ thích phim "chiến đấu" chứ không thích loại phim truyện hay phim tâm lí xã hội. Anh kể quê anh có người hô khẩu hiệu: "Đả đảo tên địa chủ Hoàng Thế Nhân gian ác"! Ở làng tôi, cũng có chuyện ném đá lên "kẻ thù" trên màn ảnh.

Hồi đó xem chiếu bóng (ở ngay xã), xem tuồng, chèo, chúng tôi đều phải đi xã khác xa đến 2, 3 cây số. Đúng như chú bé Thự kể "Đi xem tuồng thực ra cái chính không phải là để thưởng thức nội dung vở diễn, mà là để xem hình ảnh, xem mũ mãng, xem trang phục màu mè, xem vua, xem quan, xem hề…" (trang 21).

Chú bé có tên Thự đó không giấu chuyện lắm chấy, nhiều rận, cả chuyện đi ngủ không rửa chân, hay rửa "khô" theo công thức "hai xoa một đập". Đồng thời lại "lộ" chuyện đi ngủ bỏ "những hạt sung sướng" vào túi, gài kim băng cẩn thận, nhưng sáng hôm sau vừa tức, vừa tiếc của khóc hu hu… vì bị lũ chuột ranh mãnh chơi cho một vố.

Chuyện tắm mưa đầu mùa bằng cách "tắm tiên" trần truồng trong sân chẳng xa lạ gì với những đứa trẻ làng quê. Nhưng nhà  văn kể  lại thật sinh động "Tôi thích thú lao ra sân tắm mưa, tắm truồng, tắm như thế nó mới sướng. Tôi đứng giữa sân, đắm mình trong mưa, nước mưa rơi xối xả xuống đầu tôi, tóc tôi ướt sũng, nước mưa chảy ròng ròng xuống hai má tôi. Tôi vuốt mặt không kịp. Tôi ngửa mặt lên trời cho nước mưa rơi thẳng vào mặt tôi, để tôi được cảm nhận tới cùng cái sự sung sướng của tắm mưa.

Chưa hết, tôi nằm sấp xuống sân gạch, cho nước mưa tưới khắp tấm lưng trần của tôi, rồi tôi lật ngửa người cho mưa rơi kêu lộp bộp trên bụng tôi, để tôi được hả lòng hả dạ, rằng mình đang "no mưa"” (tr. 70). Rất lâu sau này, vẫn còn có thể thấy hình ảnh của việc tắm mưa hồn nhiên đó trong những câu thơ Trần Đăng Khoa miêu tả lính đảo ao ước mưa để tắm:

Ôi ước gì được thấy mưa rơi
Chúng tôi sẽ trụi trần nhảy choi choi trên cát
Giãy dụa tơi bời trên cát
Như con cá rô rạch nước đón mưa rào
Úp miệng vào tay chúng tôi sẽ cùng gào
Như ếch nhái uôm uôm trên đảo
Mưa đi! Mưa đi! Mưa cho táo bạo

                (Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn)

Tôi hồi hộp theo dõi chú bé Thự trong mọi hoạt động của chú ta. Không phải như nhà thơ Trần Đăng Khoa nói rằng tập sách này không có nhân vật. Nhân vật chính là cậu bé Thự xưng tôi. Cái tên Thự hóa ra chẳng phải là quan nha, cũng không là dinh thự, chẳng phải là ánh sáng rạng đông, mà chỉ là tên của một ông quét chợ, một loại "cùng đinh" để các "Ngài" không thèm "bắt".

Chú bé Thự đó đã sợ đủ các loại ma như bất cứ đứa bé nhà quê nào. Và thật độc đáo cách "chống ma" của mẹ chú bằng cách lấy nước giải tươi "rửa mặt" cho con khi đi qua nghĩa địa nhiều mồ mả.

Tác phẩm: "Tôi và làng tôi" của nhà văn Lê Bá Thự.
Tác phẩm: "Tôi và làng tôi" của nhà văn Lê Bá Thự.

Phải nói là anh cu Thự thế mà "đa tài". Anh ta "solo" ca khúc "Nhạc tuổi xanh" mà thính giả duy nhất là bà mẹ. Anh ta khoét sáo và thổi sáo chắc là cũng hay nên mới tham gia vào ban nhạc của làng. Tôi hình dung ra tiếng réo rắt của sáo trúc bài hát "Một đàn bướm bướm xinh. Tung tăng bướm bay lượn. Trên cánh hoa hồng rung rinh…".

Rồi bản nhạc múa sạp: "Sòn sòn sòn đô sòn/ Sòn sòn sòn đô rê…". Anh cu Thự nâng sáo lên miệng thổi, tay bấm, đầu nghiêng nghiêng, mình hơi nhún nhẩy rất điệu nghệ. Lại còn chế ra "Pháo hoa làng choa" nữa chứ.

Quả thực tôi không thể nào hình dung ra "sáng kiến vĩ đại" như thế lại do một cậu bé nhà quê nghĩ ra và thực hiện thành công có thể nói là "ngoài mong đợi": "Nhiều người tấm tắc khen pháo hoa đẹp, nom thích mắt. Có người bảo chắc lại thằng Thự  nghĩ ra cái trò này thôi. Tôi nghĩ bụng, xét cho cùng, họ có lý" (tr.230).

Tất cả các trò nghịch ngợm chơi u, chơi trốn tìm, bắn súng "đình đuột" tự chế (vùng tôi đạn bắn bằng quả đay hoặc quả xoan) anh cu Thự thường làm đầu lĩnh. Thật là oách! Riêng cái trò "trốn" vào đống rơm có rơm phủ bên ngoài hay trốn trong chum đậy nắp lên trên thì quả là "cao thủ"!

Nể nhất là danh hiệu tự phong cũng là danh hiệu làng dành cho chú bé Thự "Con Rái cá làng Nguyệt Lãng". Rái cá là loại thú bắt cá rất giỏi. Ai có danh hiệu này phải là người "sát cá" và giỏi bắt cá nhất làng. Những chuyện câu, đơm trứm, kể cả chuyện "bùa cá" (đi hôi cá) được kể thật sinh động.

Và đặc biệt là không tô vẽ. Cái chuyện "bùa cá" được nhớ và kể lại chân thành: "Toàn bộ người tôi, mặt mũi, quần áo bê bết bùn. Nhưng tôi không hề sợ, không hề nản chí, tiếp tục xông vào "vũng cá", tay liên tục chộp cá nhét vào giỏ. Đến nỗi chú V., một trong những người tát ao phải bế thốc tôi lên, ném tôi ra ngoài… Mỗi "trận bùa cá một mất một còn" như vậy, tôi kiếm được, đúng ra là "cướp" được, gần đầy giỏ cá. Tôi từng là một thằng bé dám làm và dám liều như vậy đó. Kể ra, hồi đó, tôi chẳng xứng đáng là "cháu ngoan" tí nào" (tr. 199).

Bắt cua, mò ốc, chăn bò, nuôi vịt bầu, nuôi lợn ỉ, nhổ mạ, gánh phân, tát nước, xay lúa, giã gạo... Tất tần tật các việc nhà nông, chú bé Thự đều làm thành thạo và đầy nhiệt tình. Phải nói thêm một chi tiết về chuyện gánh phân lấy điểm. Tôi cũng từng làm chuyện này. Và tôi phải ngả mũ kính chào "kiện tướng" Lê Bá Thự khi anh nói rằng anh gánh khoảng 80 cân đi từ 500 mét đến 1.500 mét. Tôi cố lắm cũng chỉ gánh được 50 cân là kịch trần mà đã thở hồng hộc, khi đến ruộng gần như muốn đứt hơi!

Về khả năng văn hóa, văn nghệ đã thấy rõ sự đam mê của chú bé với ca khúc, với phim ảnh, tuồng tích. Và đặc biệt là khả năng nhớ, kể chuyện những tác phẩm văn học mà chú bé Thự đã đọc cho những xã viên khi cùng đi làm cỏ như "Bỉ vỏ", "Hồn bướm mơ tiên", "Tắt lửa lòng". Cả chuyện mấy cô  thôn nữ tắm sông trêu ghẹo anh chàng học sinh cấp ba từ thuở nảo thuở nào mà anh cu chàng vẫn còn nhớ thì quả là… thánh thật! Chính cái khả năng "nhớ dai" này là một phẩm chất quan trọng cho người học ngoại ngữ, nhất là học thành tài để có thể dịch được tác phẩm văn học là loại bản dịch khó vào bậc nhất trên đời.

Bằng một giọng kể chân mộc, hóm hỉnh và hài hước, nhà văn Lê Bá Thự đã vẽ lên trong trí tưởng tượng của bạn đọc chú bé Thự với tất cả những điều hay (tất nhiên có cả điều dở nhưng ít) của một tuổi thơ lam lũ ở làng quê nhưng cũng đầy những niềm vui hồn nhiên, trong trẻo. Chú bé cùng với cha mẹ, những người làng Nguyệt Lãng được kể, được tả trở thành một bảo tàng về tuổi thơ ở làng quê. Tuổi thơ và hồn làng sẽ còn mãi trong kí ức bạn đọc. Và những người làm sử, làm nghiên cứu tâm lí, xã hội học, nghiên cứu văn học có một nguồn "sử liệu", "tư liệu" quý báu về tuổi thơ một thời không thể nào quên ở nông thôn nước Việt.

Vũ Nho

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).