Thêm cách tôn vinh chữ Nôm

Nhà thơ Chế Lan Viên trong “Nghĩ thêm về Nguyễn” đã viết: “Anh lập công trên dòng ngôn ngữ ấy/ (...)/ Cho nghìn năm sau vầng trăng tiếng Việt mãi còn”. “Dòng ngôn ngữ ấy” chính là chữ Nôm và “Vầng trăng tiếng Việt” mà Chế Lan Viên nói đến là "Truyện Kiều" - một kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du, niềm kiêu hãnh của văn chương Việt trên văn đàn quốc tế.

Nhiều người Việt lâu nay vẫn cho rằng, chữ Nôm thuộc vào hàng “cổ học tinh hoa”, văn chương chữ Nôm là loại “kỳ thư”, phải người có “căn số” cổ học thì may ra mới lĩnh nhận được chút đỉnh nghĩa chữ của thứ chữ mượn hình chữ Hán để ghi âm tiếng nói của người Việt. Nhận thức này, vô hình trung, tạo ra sự ngăn trở, khiến nhiều người trẻ chùn chân khi nhen nhóm ý định lần giở “chữ của tiếng nói nước ta”.

Trên thực tế, chữ Nôm là thứ chữ biểu âm - ghi âm tiếng mẹ đẻ của người Nam - tiếng Việt - một thứ chữ gần gũi với lời ăn tiếng nói của đại đa số con dân Việt. Chữ Nôm đã vượt qua được sự hạn chế của ngôn ngữ đơn âm tiết, ghi được tiếng nói đa âm tiết của người Việt, cũng như tỏ được tấc lòng của người Việt Nam.

Tất nhiên, chữ Nôm rất khó học, phải biết chữ Hán thì mới học được chữ Nôm. Thêm nữa, nhiều người Việt lại nghĩ chữ Nôm không “sang” bằng chữ Hán - thứ chữ biểu ý, vừa uyên bác, vừa thâm sâu. Nó ít nhiều phản ánh một thực tại đặc tính phổ cập của chữ Nôm trong đời sống người Việt khá bị hạn chế. Căn nguyên của vấn đề này nằm ngay trong bản thân chữ Nôm.

a5.jpg -0
“Mẹ”, tranh của họa sĩ Võ Trịnh Biện.

Như mọi người đều biết, ông cha ta trước đây muốn chấm dứt tình trạng vay mượn chữ Hán nên đã sáng tạo ra một loại chữ viết để ghi âm tiếng Việt - gọi là chữ Nôm. Trên cơ sở các ký tự của Hán ngữ, ông cha ta sử dụng những ký tự đó như một tiền tố để sáng tạo ra chữ Nôm - thứ chữ biểu âm tiếng Việt.

Tuy nhiên, vì tiếng Việt là tiếng nói đa âm tiết, 1 ký tự Hán không thể ghi hết số âm tiết của tiếng Việt nên ông cha ta đã linh hoạt ghép 2 chữ Hán để tạo ra 1 chữ Nôm mới. Chữ Nôm mới này, một phần gợi âm, một phần biểu ý. Trong số ít trường hợp, ông cha ta còn sử dụng nhiều chữ Hán để biểu 1 âm Nôm.

Qua phân tích ở trên đã phần nào cho thấy, chữ Nôm được ông cha ta phát triển trên nền tảng chữ Hán. Chữ Hán là cái vỏ ngoài của chữ Nôm. Chữ Nôm muốn biểu thị được nội dung bên trong nhất thiết phải có cái vỏ ngoài là chữ Hán. Nó giải thích vì sao người đời sau xếp Hán - Nôm cùng một bộ. Bởi, nếu vứt bỏ chữ Hán (vỏ ngoài) thì không thể nhìn thấy cái nội dung bên trong chữ Nôm. Nói cách khác, chữ Nôm không thể tồn tại nghĩa, nếu không có cái vỏ chữ Hán để biểu hiện nghĩa ra bên ngoài.

Mặc dù phát triển chưa hoàn thiện, lại phụ thuộc vào chữ Hán, nhưng chữ Nôm từng ghi danh trong lịch sử nước Nam là quốc âm - tức chữ của tiếng nói nước Nam, một địa vị mà chữ Hán chưa bao giờ đạt được ở nước ta. Văn thơ chữ Nôm cũng tỏ ra vượt trội văn thơ chữ Hán. Nền văn học chữ Nôm đã ghi nhận một số tác gia kiệt xuất như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương..., với nhiều tác phẩm lớn: "Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi, "Bạch Vân Quốc ngữ thi tập" của Nguyễn Bỉnh Khiêm, "Chinh phụ ngâm" của Đoàn Thị Điểm (dịch), "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều, "Truyện Kiều" của Nguyễn Du, “Xuân Hương thi tập” của Hồ Xuân Hương...

Nhận thức rõ về sự song trùng Hán - Nôm, họa sĩ Võ Trịnh Biện ở Đà Lạt đã thể hiện tình yêu “chữ của tiếng nói nước Nam” bằng cách... biến các chữ Nôm thành những bức tranh nghệ thuật biến ảo, tài hoa. Trên nền giấy roki khổ rộng, những bức tranh chữ lần lượt hiện ra đầy mê hoặc.

Này là chữ “MẸ” gồm bộ “NỮ” và chữ “MỸ”. MẸ trong chữ Nôm là chữ hội ý, với hàm nghĩa MẸ là người phụ nữ đẹp. Kia là chữ “TÌNH YÊU”. Ông cha ta đã sử dụng chữ “YẾU” ở phía trên có bộ á nghĩa che đậy và chữ “NỮ” ở phía dưới để biểu đạt chữ “TÌNH YÊU”. “TÌNH YÊU” trong chữ Nôm vừa hài thanh, vừa hội ý. Tình yêu là thứ tình cảm mà người phụ nữ giấu trong lòng. Ông cha ta còn sáng tạo ra chữ “MỪNG” thật nhiều ý nghĩa. “MỪNG” gồm bộ “TÂM” và chữ “MINH” (sáng), với hàm nghĩa tâm của ai còn trong sáng thì mừng. Tâm của ai có minh đạo thì mừng. Đất nước có minh quân thì mừng...

Theo chia sẻ của họa sĩ Võ Trịnh Biện, việc anh vẽ những chữ Nôm riêng lẻ như nêu ở trên là bước tập dượt cho một dự định dài hơi trong tương lai gần: vẽ cuốn sách chữ "Truyện Kiều" - kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du. "Truyện Kiều" là một tác phẩm truyện thơ bằng chữ Nôm gồm 3.254 câu lục bát, không chỉ là “Kinh Thi” của người Việt, còn là lời khẳng định đặc tính Việt tộc của đại thi hào Nguyễn Du đối với di sản chữ Nôm - thứ chữ nói lên khát vọng tự chủ ngôn ngữ của ông cha ta. Thông qua chữ Nôm, ông cha ta một lần nữa khẳng định, đây là chữ của tiếng nói nước Nam, đây là trí tuệ của người Việt.

Trịnh chu

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).