Thế sự nhân tình trong thơ Bằng Việt

Tôi đã đọc thơ Bằng Việt từ những ngày còn là sinh viên đại học. Thời đó thơ ông thường được ngâm trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Nhiều bài thơ cho đến nay tôi vẫn thuộc lòng.

Thực ra, nói đọc thôi thì không chuẩn, vì thời đó chúng tôi sơ tán lên tận Đại Từ (Bắc Thái), gần như không có báo để đọc. Những sinh viên yêu thơ như tôi chỉ nghe qua đài, rồi chép vào sổ tay học thuộc lòng. Nhiều bài thơ Bằng Việt dịch từ các nhà thơ Nga cũng được chép vào sổ tay như thế, cùng chuyền nhau ngâm ngợi... Thời đó tôi đã hình dung ông là một nhà thơ tài hoa.

nhà thơ bang_viet.jpg -1
Nhà thơ Bằng Việt.

Hôm vừa rồi, Hội Nhà văn Việt Nam họp tổng kết năm, tôi gặp ông, tôi đưa tặng ông tập thơ và có ý muốn viết đôi điều về ông. Đọc xong tập thơ “Thơ Bằng Việt 1986-2016” ông gửi cho tôi qua email, tôi cảm thấy ông là một nhà thơ công dân thực sự. Cũng phải, vì năm 2013 Bằng Việt đã được vinh danh là Công dân Thủ đô ưu tú. Tôi bỗng nhớ tới bài thơ “Trở lại trái tim mình”, bài thơ đã qua hơn 50 năm mà tôi vẫn thuộc lòng. Bài thơ là một khúc tráng ca về Thủ đô Hà Nội thời đó:

... Sông Hồng ơi giông bão chẳng thay màu/ Rùa thần thoại vẫn nhô lưng đội tháp/ Chùa Một Cột đổ lên đầu giặc Pháp/ Lại nở xòe trọn vẹn đóa hoa sen/ Dù nhiều điều tôi nhớ tôi quên/ Nhưng Hà Nội trong tôi là vĩnh viễn...

...Dù quân thù bắn phá cuồng điên/ Tim ta đỏ, vẫn nguyên lành Hà Nội/ Ôi trái tim nóng hổi/ Tôi về đây là thêm sức đi xa... (1967).

Thật hào sảng, thật trữ tình, thật nồng say… Nhiều câu thơ trong bài ấy đến bấy giờ vẫn rất gợi, rất mở: Những gác xép bộn bề hy vọng/ Những đầu hồi bóng nắng nhấp nhô…/ ...Cánh bướm màu hạnh phúc cứ bay đôi/ Ve sầu ran điệp khúc những mùa vui... Ôi rất lâu, rất lâu/ Tôi mới lại đi một ngày thong thả/ Thành phố như tim tôi yên ả/ Sau rất nhiều gian lao...

Nhà thơ Bằng Việt (Nguyễn Việt Bằng) sinh ra ở Huế, nhưng quê gốc ở Chàng Sơn, Thạch Thất, Sơn Tây, nay thuộc Hà Nội. Bài thơ “Bếp lửa” viết từ thời sinh viên của ông được đưa vào sách giáo khoa, đã gợi nhiều chi tiết về vùng quê Xứ Đoài ấy:

...Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói/ Năm ấy là năm đói mòn, đói mỏi/ Bố đi đánh xe khô rạc ngực gầy/ Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu/ Nghĩ lại đến giờ, sống mũi còn cay  ... Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà/ Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa...

Ngoài tám năm thời thơ ấu đi tản cư cùng bà nội và em trai (1946-1954) và dăm năm tình nguyện vào tuyến lửa làm phóng viên mặt trận, đồng thời được phân công ghi chép Sổ vàng truyền thống của Đoàn 559 (Bộ Tư lệnh Trường Sơn, từ 1969 đến 1973, dọc tuyến Đường mòn Hồ Chí Minh), thì hầu như trọn cuộc đời, Bằng Việt sống và gắn bó mật thiết với Thủ đô Hà Nội.

Và với danh xưng một luật gia, một nhà thơ, Công dân Ưu tú Thủ đô, Bằng Việt cũng đã từng được dân Thủ đô tín nhiệm bầu làm Phó chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố hai khóa (1991-2000), Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố bốn nhiệm kỳ (Khóa 9,10,11,12). Sau đó, ông tiếp tục được bầu là Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội ba nhiệm kỳ; đồng thời kiêm nhiệm là Ủy viên Đảng Đoàn và Phó chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, rồi Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa Xã hội của UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy viên Đoàn Chủ tịch của Ủy ban Hòa bình Việt Nam. Những năm gần đây, ông đảm nhiệm chức danh Chủ tịch Hội đồng Giải thưởng Bùi Xuân Phái “Vì tình yêu Hà Nội”.

Tôi vừa đọc chùm thơ của Bằng Việt mới in ở Tạp chí Nhà văn và cuộc sống số 16-2013. “Thế sự nhân tình” vẫn luôn là điều đau đáu trong thơ ông. Khi suy tư về một hoàn cảnh ngỡ chừng rất phi lý mà mọi người đều chấp nhận và thấu hiểu, từ câu chuyện cổ là "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" (mà tác giả Lưu Quang Vũ đã từng chuyển thành kịch rất thành công), Bằng Việt lại đã cho nối dài thêm tình tiết “phi lý mà hợp lý” ấy tới tận hôm nay: "...Xác không hồn, đành nhờ hồn Trương Ba đóng thế/ Chuyện trái khoáy nực cười, khiến bi kịch bất ngờ thêm rối ren hơn.. / Nhưng đến thời nay, bi kịch cũ đang hóa thành việc đời phổ biến:/ Sống hai mặt, ở hai lòng, còn hòa nhập làm sao thể xác với tâm hồn!?".

img_2398.jpg -0
Tác phẩm của nhà thơ Bằng Việt.

Và bài "Nếu băng vẫn tan trên Bắc Cực", cũng ở chùm thơ trên:

Nếu: "...Trận đại hồng thủy xa xưa lộn kiếp trở về...", thì: "Nhân loại sẽ cần hàng triệu con thuyền Nô-ê/ Không phải tên lửa, xe tăng, đầu đạn hạt nhân hay bom nguyên tử/ Không cần các phe nhóm, băng đảng, bất kỳ cánh tả hay cánh hữu/ Không cần cả chủ nghĩa vô thần, mọi học thuyết đòi xé lẻ và thủ tiêu giai cấp/ Không cần cả bè lũ độc tài tham lam, đòi ngồi lên đầu thiên hạ suốt đời!...Vâng, các núi băng vẫn đang tan... trên Bắc Cực!.."..

Các bài thơ luôn lấy cảm hứng rất cụ thể, đậm “chất thế sự” như vậy, toát ra chất triết lý ngay từ bản thân mỗi sự việc thực tế, từ lâu đã có chỗ đứng trong thơ Bằng Việt. Tôi nhớ, hơn 35 năm trước, từ thời bao cấp, một cô ca sĩ khá tài năng, vốn chỉ làm hợp đồng cho Hội Văn nghệ Hà Nội, lúc vừa biểu diễn xong, được mọi người tung hô tán thưởng, thì Bằng Việt đã tưng tửng hạ một câu kết rất thực tế, mà lại chua chát bất ngờ đến mức làm độc giả chúng ta đều chưng hửng (trong bài thơ "Giọng hát hay - 87"): "...Tất cả ùa quanh, cổ vũ, chúc mừng em/ Em chỉ cắn môi, mệt mỏi, dịu dàng:/ - Đã chắc gì em được vào biên chế!!!".

Vậy đó! Dù là một giọng hát hay thật sự, được mọi người yêu mến, tung hô, nhưng cái lo “cơm áo gạo tiền” của mỗi nghệ sĩ đã choán hết cả cảm xúc nghệ thuật... Và được vào biên chế thời đó là một mơ ước không hề dễ dàng gì, dẫu rằng rất có tài đi nữa. Và một hậu quả nữa của thời kỳ đó là cách sống tạm bợ, nay biết nay, mai biết mai, không có điều kiện để hoạch định nổi tương lai cho chắc chắn. Thật buồn, khi: Cái tạm bợ đã thành một đời/ Cái tạm bợ đã thành vĩnh cửu! (Sự tạm bợ).

Sống cạnh luồng tư duy lạc hậu ấy, nhà thơ Bằng Việt ý thức rất rõ là mình không được giậm chân tại chỗ, hay tụt hậu, mà cần dám đổi mới, phù hợp với thời đại: ...Anh không khác ư?/ Thời đã khác rồi... (Thời đã khác rồi). Và: ...Đã qua bao nhiêu suy nghĩ nhất thời/ Qua tất cả những vui buồn bé bỏng/ Thời gian như ngọn sóng/ Lòng ta như đất bồi... (Từ giã tuổi thơ).

Nhìn lại cả một thời tạm bợ, nhiễu nhương, tất nhiên có chút ngậm ngùi, nhưng tâm trạng phải bình tĩnh, tự tin, không bi lụy: "...Nốt ruồi nhỏ bên môi em vẫn thế/ Mà một thời giông bão đã đi qua..".  (Rung động buổi chiều). Dù thời thế đã đổi thay, nhưng lòng ông vẫn luôn đau đáu mọi chuyện nhân tình thế thái, say mê khám phá cái mới đang trải ra vô tận trong đời, và đặt cả vấn đề trách nhiệm của Thơ với Đời: "...Những khám phá nhỏ nhoi sánh đâu tầm vũ trụ/ Ngàn gay cấn rát lòng, thơ vẫn là ngoại trú/ Thơ còn là tri kỷ nữa hay chăng?!" (Lại nghĩ về thơ).

Bây giờ, bước vào thời hội nhập và mở cửa, đôi khi đã có người chủ quan cho rằng thời sáng tác thơ có ý thức công dân là cũ kỹ rồi, lạc hậu rồi! Tôi không nghĩ thế. Thời nào thì mỗi chúng ta đều là con dân đích thực của nước Việt, và không thể đứng ngoài trách nhiệm và nghĩa vụ của một công dân.

Ta phải sống thế nào, yêu thế nào, cảm nhận thế nào, thì mới viết ra được những câu thơ rung động lòng người, mà lại có đầy đủ phẩm chất công dân. Ngoài tài thơ, thì điều này hẳn là một phần cũng còn do trời phú nữa. Nhưng nếu không nỗ lực đạt được tiêu chí ấy, thì thơ chẳng qua vẫn chỉ đóng vai trò một “kẻ ngoại trú” vậy thôi, như nhà thơ Bằng Việt đã viết.

Một thực tế hiện nay, là không ít người viết trẻ của chúng ta xuất hiện rất nhanh rồi vụt tắt! Tôi thiển nghĩ: Một nhà thơ lớn phải là một nhà văn hóa lớn. Họ phải dám sống hết mình, yêu hết mình, dám dấn thân gắn bó hết mình với cộng đồng dân tộc, với quê hương, đất nước. Do vậy, tôi rất tâm đắc với những câu thơ của nhà thơ Bằng Việt đã viết trong bài “Beethoven và âm vang hai thế kỷ”:

...Trái tim lớn mang niềm đau khổ lớn
Trái tim trải những vòng sóng gợn
Lan truyền đi mãi mãi tới tương lai...

Xưa nay, những nghệ sĩ, những nhà thơ lớn đều cần có trái tim lớn, biết rung động và chia sẻ được mọi niềm vui, nỗi khổ của con người... Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu... là như vậy. Ngày nay, nếu chỉ nhân danh “làm mới thơ”, nếu chỉ tỉa tót tỉ mẩn những tình cảm, suy nghĩ vụn vặt, bé nhỏ của riêng mình, thì thơ sẽ còn cần cho ai, tôi thiển nghĩ vậy!

Sóc Sơn 4/2024

Dương Kỳ Anh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).