Qua tác phẩm “Những sắc màu đa thức” - NXB Hội Nhà văn, 2022

Thế giới ngôn ngữ thơ của Trần Quang Quý trong thơ Namkau

Giữa bạt ngàn tác giả thơ Việt đang lan tỏa và tìm cách lập ngôi cho ngôn ngữ thơ của mình, thì giới văn chương Việt Nam đã minh định nên tầm vóc Trần Quang Quý qua tài năng thi ca và sức lao động không mệt mỏi của ông sau nhiều năm bền bỉ cùng câu chữ!

Ngôi thơ trong kiếp chữ

Giữa bạt ngàn tác giả thơ Việt đang lan tỏa và tìm cách lập ngôi cho ngôn ngữ thơ của mình, thì giới văn chương Việt Nam đã minh định nên tầm vóc Trần Quang Quý qua tài năng thi ca và sức lao động không mệt mỏi của ông sau nhiều năm bền bỉ cùng câu chữ! Điều rất dễ nhận thấy ở thơ Trần Quang Quý là sự độc đáo, hàm ngôn và tươi mới trong ngôn ngữ thơ. Sự làm mới liên tục của ông đã tạo ra nét riêng của thơ ông, đồng thời còn góp phần mở rộng các trường nghĩa mới cho ngôn ngữ Việt. Có thể nói, cuộc đời thơ của Trần Quang Quý là sự cần mẫn và liên tục những tìm tòi sáng tạo cho thơ.

Thế giới ngôn ngữ thơcủa Trần Quang Quý trong thơ Namkau -1
Thi sĩ Trần Quang Quý và phu nhân của ông, Nhà văn Y Mùi.

Với những đóng góp ấy, mặc nhiên, ông đã trở thành những người mở đường sáng tạo và đổi mới tích cực cho thơ Việt Nam trong giai đoạn vừa qua. Cũng cần nói thêm rằng, đã có rất nhiều tác giả thơ tích cực "làm mới mình, làm khác mình" trong cuộc cách tân thơ rầm rộ vài mươi năm trở lại đây, nhưng thành công như Trần Quang Quý là không nhiều, bởi sự cách tân của Trần Quang Quý là sự sáng tạo, tìm tòi độc đáo, được kết hợp giữa ngôn ngữ Việt và ý tứ thơ. Nhà thơ Trần Quang Quý đã xuất bản hơn hai mươi đầu sách. Trong sự nghiệp văn chương của mình, ông đã giành được nhiều giải thưởng có giá trị. Năm 2016, ông đã được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật cho cụm 3 tác phẩm thơ: "Giấc mơ hình chiếc thớt"; "Siêu thị Mặt"; "Màu tự do của đất".

Năm 2022 biết mình mắc trọng bệnh và sắp đi xa, ông đã cho xuất bản cùng lúc 3 tập thơ là "Miền tỏa bóng"; "Những sắc màu đa thức" và "Những nẻo người". Có thể nói, đó là những ấn phẩm thơ quý mà thi sĩ họ Trần gửi lại nhân gian trước khi hóa về cõi vĩnh hằng! Ba thi phẩm này mang đậm nét quá trình sáng tạo liên tục trong thế giới thơ của Trần Quang Quý. Có thể nói Trần Quang Quý đã tạo ra những ngôi chữ trong kiếp thơ của mình. Nói một cách khác thì người thơ đã nhập hồn mình vào xác chữ, để tạo ra một hệ thống ngôn ngữ thơ Việt độc đáo và đa chiều mang thương hiệu của riêng ông.

Định hình dòng thơ Namkau trong Những sắc màu đa thức

Trần Quang Quý là người ưa thích và lấy việc tìm ra chữ mới, cách viết mới cho thơ Việt làm nguồn mạch để sáng tạo và cống hiến. Điều này trong giới thơ ca luôn là một mệnh lệnh. Xưa, Đỗ Phủ thi thánh đã từng nói: "Ngữ bất kinh nhân, tử bất hưu!" (Làm thơ, dùng chữ không khiến người nể sợ, thì chết không an), nay, giới thơ ca thường bảo nhau: "Viết về cái gì và viết như thế nào?". Mấy câu hỏi ấy tưởng như đơn giản này nhưng lại là thách thức liên tục đối với cả người viết và người đọc của thơ trong quá trình vận động để tồn tại và phát triển của thi ca cùng lịch sử.

Mấy năm vừa qua Trần Quang Quý đã sáng tạo ra một thể thức thơ mới đó là thơ Namkau. Ấy là một dạng thức thơ mà mỗi bài gồm năm (5) câu thơ, được tách thành hai phần. Phần đầu ông gọi là phần Trình diễn, phần sau của bài thơ là Kết và Nghiệm. Năm 2016, ông xuất bản tập thơ Namkau đầu tiên, nhiều bài thơ trong tập ấy đã được rất nhiều nhà thơ, nhà phê bình văn học cổ vũ và tán thưởng. Từ đó đến nay, Namkau thơ mặc nhiên là một hình thức thơ được nhiều người sáng tác lựa chọn. Đấy, có thể coi là một đóng góp khá ấn tượng của Trần Quang Quý cho nền thơ Việt Nam hôm nay. Có thể nói, điểm nhấn của bộ ba tác phẩm mà Trần Quang Quý công bố lần này là tập thơ Namkau Những sắc màu đa thức của ông.

Trong rón rén bình minh chợt nhú/ ban mai vừa cởi cúc mùa thu.

Hai câu thơ trên hiện lên trong trí nhớ khi tôi ngồi viết về ông, nó là hai câu Kết và Nghiệm của một bài thơ Namkau mà Trần Quang Quý giới thiệu từ năm 2016. Trong "Những sắc màu đa thức", tần suất những câu thơ động, lạ và tỉnh thức như thế xuất hiện rất nhiều:

Hoa bưởi trắng miền em trinh trắng/ thơm tháng ba thơm núm em cười/ thắp nắng bằng màu hoa giản dị/…/ Tôi đơm hết mùa hương trên ngực gió/ ướp cả chiều vào một làn môi. (Tháng ba).

Cánh buồm đã duỗi sâu ký ức/ ghim đôi mắt chiều xa/ có bến sông nằm lỡ một đời đò/…/ Đã qua bao bến nhớ/ chưa qua bờ đứng lệch cả ngày xưa! (Bên sông).

Trần Quang Quý sáng tạo ra một thể thơ bằng một sự tìm tòi của ý tưởng, của tư duy thơ, chứ không phải một hình thức để bó buộc ngôn ngữ thơ mình! Lúc sinh thời ông luôn tâm niệm là: Làm mới ngôn ngữ thơ, bởi vậy nên ông đọc thơ người khác cũng bằng tâm thức ấy để tìm cái hay trong cái mới của ngôn ngữ thơ! Với mạch thơ Namkau, bởi nó hạn chế về câu chữ, nên ngôn ngữ của nó là thứ ngôn ngữ thơ đại diện, nó không thuộc nhóm ngôn ngữ tự nhiên, dung dị những vân vi, những dãi dề bày tỏ… Mỗi bài thơ Namkau của Trần Quang Quý được thiết đặt tinh tế bằng những cụm ngôn ngữ minh triết, những ám ảnh và gợi thức:

Thế giới ngôn ngữ thơcủa Trần Quang Quý trong thơ Namkau -0
Bộ ba tác phẩm của thi sĩ Trần Quang Quý xuất bản năm 2022.

Có cái mặt phởn phơ đêm trung thu mót trăng/ có cái mặt ả đào dẻo mắt/ có cái mặt quặn đời chật hẹp…/…/ Lại có cái mặt mà không thành mặt/ dán vào đâu cũng chẳng giống mặt người. (Mặt lạc).

Bài thơ "Mặt lạc" trên đây là một bài được viết bằng những cụm chữ mới lạ. Cái bản mặt sinh học của con người thì rất dễ thấy, nhưng cái gương mặt làm người, cái gương mặt mang "tính người" thì chưa chắc đã hiện hữu và đồng nhất với gương mặt sinh học của mỗi cá nhân. Bài thơ chỉ khoảng trăm chữ, mà ý thơ thì sâu sắc và gợi mở, đó là cách lập tứ của một cây bút thơ tài hoa và trí tuệ! Đấy là "Mặt lạc", còn đây là một cách luận giải khác về mặt:

Lang thang từ lối mòn heo hút đến đại lộ/ những bước chân dẫm dọc ngang lịch sử/ tiếc những con đường không thành./…/ Có người đi cùng kiệt núi sông/vẫn là người không mặt. (Diện).

Trong thơ Namkau nói riêng và thơ của Trần Quang Quý nói chung, thì cái tên bài thơ không đơn thuần chỉ là một khái niệm để định danh cho ý tứ thơ, mà nó còn là một phần quan trọng trong nội dung của bài thơ! Những người thơ tài hoa và chuyên nghiệp trong sáng tác của mình luôn biết cách để mở rộng sức chứa, sức tải cho câu chữ, luôn bắt câu chữ phải biến ảo để tiếp cận đa chiều hơn, sâu hơn với cõi người.

Đêm dài quá không sao ngủ hết/ tuổi dần cao giấc ngủ co dần/ thấp thỏm đợi bình minh giải cứu/…/ Nằm vơ vẩn những tầm thường hoang phí/ trót gửi ngân hàng không lãi suất thời gian. (Những đêm)

Cái cách mà Trần Quang Quý dùng thể thơ Namkau để làm hay, làm mới cho ngôn ngữ thơ mình qua ấn phẩm "Những sắc màu đa thức" là rất đáng trân trọng. Điều đáng quý và độc đáo nữa trong sáng tạo của Trần Quang Quý là ngôn ngữ thơ dù để hiểu, hay để dẫn gợi, thấu cảm, đều gắn chặt với văn hóa và ngôn ngữ thuần Việt. Có thể đây chính là điểm nhấn để những sáng tạo của ông dễ được đông đảo bạn đọc và giới chuyên môn ghi nhận:

Cơn gió góa đi lẻ ngày thu cuối/ bến sông gầy mùa cạn nhớ ai/ những ngày hè dập dìu bãi tắm/…/… Gió hy vọng gặp ngày hè quá lứa/ biết đâu còn cạp lại nong nia. (Duyên cuối).

Với thơ Namkau, Trần Quang Quý đã đóng góp vào thơ Việt Nam một thể thức thơ khá hợp với tiếng Việt, chữ Việt, hợp với cách nói, cách nghĩ của người Việt, thơ ấy dung hợp tốt đối với mọi thi liệu trong cuộc sống của người Việt Nam, nên chúng ta có thể hy vọng rằng Namkau sẽ tồn tại và phát triển tốt trong đời sống văn chương Việt Nam.

Thay lời kết

Càng đọc thơ Trần Quang Quý ở những tập gần đây, và đặc biệt với tác phẩm thơ Namkau "Những sắc màu đa thức", càng nhận thấy sự biến ảo đa dạng, đa chiều của ngôn ngữ thơ với mật độ ngày một dày hơn! Tài năng thơ và năng lực sáng tạo liên tục ấy đã đặt thi sĩ Trần Quang Quý vào vị trí những nhà thơ tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hôm nay. Đọc thơ Trần Quang Quý, ta nhận ra rõ nét hơn một thiên chức nữa của nhà thơ là tạo nên chữ mới cho ngôn ngữ và mở thêm các tầng nghĩa mới cho chữ.

Trần Quang Quý đã thành công trong cách lập Ngôi cho câu chữ của thơ mình. Trong thế giới ngôn ngữ thơ của ông, câu chữ không được phép lặp lại mình, như thể nó sinh ra một lần rồi phải chết, để đến bài thơ sau, là cơ hội cho một kiếp chữ mới khai sinh! Sự sinh diệt liên tục ấy khiến câu chữ của thơ ông luôn độc đáo và mới mẻ!

Hà Nội 8/2023

Nguyễn Thế Kiên

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).