Thế giới hiểu gì mới về Nguyễn Đình Chiểu?

Nhà thơ mù yêu nước Nguyễn Đình Chiểu (1822 - 1888) được Đại hội đồng UNESCO (Kỳ họp lần thứ 41) tôn vinh là Danh nhân văn hóa năm 2022 với những căn cứ trước tác thơ yêu nước; giàu có lý tưởng đạo đức; nhấn mạnh giá trị làm người; đề cao tinh thần vị tha; ca ngợi những tấm gương xả thân, trượng nghĩa,...

Trước đó, nhất là dịp kỉ niệm 200 năm ngày sinh danh nhân này, giới học thuật thế giới có những cách hiểu mới rất đáng chú ý về thời thế, cuộc đời và sáng tác của ông.

Về tính hiện đại, nhiều chuyên gia thế giới khẳng định Nguyễn Đình Chiểu là cây đại thụ “liên văn hóa” (intercultural) tiêu biểu. Câu cảm thán “Hỡi ôi!/ Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ” trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” khái quát cao nhất về một thời cuộc loạn lạc, nhưng chính trong thời điểm “nước sôi lửa bỏng” tinh thần yêu nước của nhân dân mới thể hiện cao độ nhất.

Chịu ảnh hưởng sâu sắc Nho học nhưng rất gần gũi với dân nghèo, không ngẫu nhiên hầu hết các tác phẩm chính của ông đều được sáng tác bằng chữ Nôm. Thời đó đạo Phật vẫn có ảnh hưởng lớn, đạo Công giáo đang mạnh dần theo bước chân xâm lược của người Pháp. Nguyễn Đình Chiểu không ưa Phật giáo, phản đối Công giáo, nhưng như một quy luật phản tiếp nhận cũng là một tiếp nhận. Tức ông đã tìm hiểu đủ độ sâu sắc để hiểu rồi “ghét” hai tôn giáo này.

Lẽ tự nhiên trong tư tưởng và tác phẩm của ông vẫn có bóng dáng văn hóa Phật giáo và Công giáo. Giặc Pháp sang tất yếu kéo theo văn hóa phương Tây, mà một học giả như ông, ít nhiều cũng tìm hiểu và tiếp thu. Những điều ấy đủ cho thấy Nguyễn Đình Chiểu là một tác giả liên văn hóa tiêu biểu của thời đại bấy giờ!

image001.jpg -0
Một Hội thảo khoa học về Nguyễn Đình Chiểu.

Cái không may của Nguyễn Đình Chiểu lại tạo ra sự may mắn cho văn học Việt Nam. Dấu ấn bi kịch cá nhân và bi kịch thời đại hằn sâu vào thế giới tác phẩm Đồ Chiểu để phát ra những ánh sáng lạ phản ánh chân thực, đau đớn và bi tráng về thời kỳ đau thương mất nước, đanh thép căm hờn tinh thần tố cáo tội ác kẻ thù xâm lược, với “Chạy giặc”, “Ngư tiều y thuật vấn đáp”, “Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh”; “Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây”; “Hịch đánh chuột”...

Câu thơ bất hủ “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” chúng ta vẫn hiểu là nói về sứ mệnh con thuyền nghệ thuật chở đạo lý, người nghệ sĩ là chiến sĩ dùng ngòi bút làm vũ khí chống lại kẻ xấu, kẻ gian. Cách hiểu của UNESCO có phần phổ quát rộng rãi hơn, ứng vào thời của truyền thông số: mỗi con thuyền nhân cách trên dòng sông cuộc đời đều mang sứ mệnh “chở đạo”. Bằng chữ viết/tiếng nói mỗi người vẫn có thể tham gia vào mặt trận bài trừ những thứ độc hại (ô nhiễm môi sinh, văn hóa phẩm...) đang ở chung quanh họ. Có vậy mới góp phần làm cho thế giới tốt đẹp, lành mạnh, thân ái hơn!     

Hai câu thơ “Thà đui mà giữ đạo nhà/ Còn hơn có mắt ông cha không thờ” cũng được hiểu rộng hơn, “đạo nhà” không chỉ là nếp nhà (gia phong) mà còn là “đạo Tổ quốc”, là đạo lý, phép tắc quốc gia. “Ông cha” là tổ tiên, là lịch sử. Người có đạo lý là người biết giữ gìn bảo vệ, biết hy sinh vì nước. Kẻ vô đạo là kẻ quên tổ tiên, quên lịch sử!

 Là một tấm gương sáng ngời về ý chí nghị lực phi thường, về đạo lý làm người, cứu giúp người, thế giới coi Nguyễn Đình Chiểu là hình mẫu cho người trí thức hôm nay về Trí tuệ, Tình thương, Trách nhiệm trước xã hội. Để lại di sản lớn mang tầm “mẫu số chung” với văn hóa nhân loại: ca ngợi con người, đấu tranh chống lại cái ác, cái xấu, nhà thơ còn thể hiện một quan niệm mỹ học về cái đẹp mãi mãi tỏa sáng: là sự hài hòa, tương xứng (qua tình yêu Vân Tiên/Nguyệt Nga), là khát vọng vươn lên vẻ đẹp tận thiện tận mỹ (qua tên gọi và phẩm chất, hành động các nhân vật Nguyệt Nga, Hớn Minh, Tử Trực...).

Ngoài “Lục Vân Tiên” được dịch ra ba thứ tiếng Anh, Pháp, Nhật đã có một đời sống riêng ở các xứ sở mới dù khác biệt về văn hóa nơi sinh ra, tác giả còn có “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” - một tượng đài người nghĩa sĩ điêu khắc bằng ngôn ngữ liên văn hóa. Hình tượng tiêu biểu cho truyền thống “ngụ binh ư nông” (gửi quân lính về làm nông dân) tức một chính sách “nội văn hóa” (intracultural) thành công ở các thời Lý, Trần, Lê... trước đó.

Ngôn từ “liên văn hóa” đã diễn tả rất sinh động cuộc chiến đấu giữa những người nghĩa sĩ trang bị rất thô sơ nhưng có trái tim cực kỳ dũng cảm: “Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia/ Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ/ Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh...”. Các từ chỉ hành động ở vị trí giữa câu thơ như cái bản lề khép mở hai không gian chiến trường: những nghĩa sĩ với “rơm con cúi”, “lưỡi dao phay” và “đốt”, “đâm”, “chém” (hành động) “nhà dạy đạo”, “quan hai”, “mã tà ma ní” (kẻ cướp nước). Đó là cuộc đấu tranh một mất một còn của hai luồng văn hóa, văn hóa yêu nước chính nghĩa và bọn xâm lược phản văn hóa. Hình tượng người nghĩa sĩ nông dân lồng lộng một vẻ đẹp của chủ nghĩa yêu nước mãi mãi đi vào lịch sử văn hóa nhân loại để rồi mãi mãi bất tử!

image002.jpg -0

Nhiều học giả chứng minh hầu hết các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu đều sâu đậm tinh thần liên văn hóa. “Dương Từ - Hà Mậu” gồm 3.456 câu, trong đó phần lớn là thơ lục bát, có xen thơ luật Đường (33 bài) và các thể thơ khác là liên văn hóa về hình thức.Nội dung câu chuyện nói lên thái độ của tác giả đối với đạo Phật và đạo Công giáo là liên văn hóa tôn giáo. Có liên văn hóa không gian tâm linh tín ngưỡng (thiên đường, địa ngục) và quan niệm dân gian về “hóa kiếp” qua nhân vật tự “giải mê” trong cuộc hành trình dài đi tìm chân lý và trở về với gia đình, làng nước.

“Ngư tiều y thuật vấn đáp” gồm 3.642 câu, phần lớn là thơ lục bát, có xen 21 bài thơ và một số bài phú (tức liên văn hóa về hình thức) trích từ các sách thuốc Trung Hoa (là liên văn hóa nghề nghiệp ở hai quốc gia), qua đó bàn về đạo lý là liên văn hóa về tư tưởng. Các tư tưởng về nghề thuốc và đạo làm người xuyên thấm vào nhau để nói rất sâu sắc quan niệm: nghề nào cũng vậy, nhất là nghề thuốc phải coi đạo lý làm người lên trên hết. Hai nhân vật chính (ông ngư và ông tiều) đối thoại với nhau về sự kết hợp thuốc rừng núi, đồng bằng là tiêu biểu cho liên văn hóa miền ngược (ông tiều/tiều phu lấy củi) - miền sông nước (ông ngư/ngư phủ đánh cá)...

Thơ lẻ của Nguyễn Đình Chiểu cũng rất rõ tính liên văn hóa. Ví như câu: “Hoa cỏ bùi ngùi ngóng gió Đông/ Chúa Xuân đâu hỡi, có hay không?” (Ngóng gió Đông) thì thấp thoáng “liên văn hóa” câu thơ của Thôi Hộ (đời Đường - Trung Quốc): “Nhân diện bất tri hà xứ khứ/ Đào hoa y cựu tiếu Đông phong” (Người không biết đi đâu/ Hoa đào năm ngoái còn cười gió Đông). “Chúa Xuân” là một ước lệ thi ca cổ điển phương Đông chỉ bề trên, tức Vua. “Hịch đánh chuột” rất rõ một sự tiếp thu ngụ ngôn của cổ nhân: lấy hình tượng “chuột” để chỉ kẻ ác, kẻ xấu, kẻ tham tàn hại người, trong bài là chỉ giặc Pháp “mặt mũi xồm xoàm”...

Nhiều học giả châu Á cho rằng cấu trúc nhân cách của Nho sinh (Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản...) thời trước cũng được đào tạo theo hướng liên văn hóa mà biểu hiện tập trung ở 4 chữ “Nho, Y, Lý, Số” tức nhà Nho nào cũng biết 4 phương diện: Nho/đạo Khổng; Y/ thầy thuốc; Lý/ thầy địa lý, phong thủy; Số/ thầy tướng, thầy bói. Người giỏi toàn diện như Nguyễn Đình Chiểu cả 4 phương diện trên không phải là hiếm. Điều này cắt nghĩa tại sao Cụ Đồ Chiểu lại chọn Ba Tri (Bến Tre) là nơi sống và an nghỉ cuối cùng.

Cụ giỏi phong thủy nên chọn đất lành, tương truyền cụ sống và an táng ở nơi có “long mạch” là hàm một con rồng đang vươn ra biển. Mộ Cụ gối đầu vào ba cái cù lao cũng nhìn hướng ra biển. Ngày nay Đền thờ được nhân dân Bến Tre xây dựng xứng đáng với tầm vóc lớn lao của Cụ. Khu Lăng mộ hoành tráng (tọa lạc tại xã An Đức huyện Ba Tri) được kiến trúc hài hòa theo lối “liên văn hóa” phong cảnh làng quê Việt kết hợp kiến trúc Phật giáo, Nho giáo. Ngôi đền thờ có ba tầng mái tiêu biểu cho ba tư cách của Cụ là Nhà giáo mẫu mực, Nhà thơ yêu nước, Danh y lớn. Cũng là một “liên văn hóa”! 

Với những cống hiến to lớn cho nhân loại về mặt tư tưởng, Nguyễn Đình Chiểu còn là một tấm gương sáng ngời về ý chí nghị lực phi thường, về đạo lý làm người. Nhà thơ vĩ đại ấy còn thể hiện một tinh thần liên văn hóa hiện đại, mới mẻ rất cần được tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân đã dành thời gian hơn một năm để biên soạn cuốn sách chuyên khảo công phu có tên gọi “Các nhà văn nữ đoạt giải Nobel sống và viết”. Tác phẩm có dung lượng 600 trang với nhiều thông tin bổ ích này vừa được Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành.