Thầy trò trường huyện

Ngày ấy thầy cô thường là ngoài mười chín, đôi mươi. Trò có người chỉ kém người dạy dỗ mình một vài tuổi là chuyện bình thường. Thầy giáo có chiếc xe đạp đi dạy học đã gọi là sang. Có thầy cho học trò xa mượn xe đi học cả tuần. Sau này nhiều năm người trò ấy đến thăm thầy nhớ lại chuyện xưa mắt còn rơm rớm.

Ngày ấy…

Năm ấy…

Tôi mang về cho vợ con một túi quà đặc biệt: Chè lá to dày, hơi ngả màu vàng xanh do vợ người bạn học cũ của tôi hái ở vườn nhà biếu khách. Của một đồng công một nén. Hái được ngần này chè đâu dễ. Phải trèo cây hoặc vin cành mới hái được. Chè ăn lá, cây to cao hơn loại chè ăn búp. Chè thường trồng trong vườn nhà…

Nơi vùng gò đồi quê bạn tôi đây vốn là đất có loại chè tươi nổi tiếng này. Nhận mớ chè tươi bạn cho mà như nhận lại cả bao nhiêu năm xa cách để cùng nhau kí ức lại một thời áo nâu chân đất đi học cấp 2 trường huyện. Ngôi trường Quốc lập đầu tiên của huyện ấy mái lá đơn sơ ngay cạnh con sông nhỏ hiền ngoan có tên như một câu chuyện cổ: Sông Tích.

Sông Tích có nguồn từ Tản Viên Sơn. Sông như nét cổ kính được Đức Thánh Cả Sơn Tinh thả niềm sinh thủy vào vùng đất quê. Bên đôi bờ sông còn lưu lại nhiều đền đình, miếu mạo thờ tự công đức của Người. Trường huyện Quốc lập cấp hai được dựng sau hòa bình lập lại năm 1954 với trước đó có một trường tư thục ở bên này sông Tích.

Lạ lùng cho giây phút gặp lại. Một lớp học đặc biệt. Trò chẳng có ai dưới sáu mươi tuổi. Có người là nhà nghiên cứu, là cán bộ, bộ đội đã được nghỉ hưu. Có người là nông dân từ thuở ấy đến giờ. Thầy giáo thì có người đã ngoài bảy mươi, tám mươi. Có thầy là Giáo sư, là chuyên viên cấp cao. Có thầy vẫn từ ấy đến giờ thủy chung với cấp dạy của mình cho tới lúc về hưu. 

Ngày ấy thầy cô thường là ngoài mười chín, đôi mươi. Trò có người chỉ kém người dạy dỗ mình một vài tuổi là chuyện bình thường. Thầy giáo có chiếc xe đạp đi dạy học đã gọi là sang. Có thầy cho học trò xa mượn xe đi học cả tuần. Sau này nhiều năm người trò ấy đến thăm thầy nhớ lại chuyện xưa mắt còn rơm rớm. Có thầy dẫn trò đi Lao động Xã hội Chủ nghĩa còn chia cả nắm cơm trộn sắn cho trò ăn…

Hôm nay gặp trò có thầy tâm sự:

- Ngày ấy được bồi dưỡng thêm kiến thức cho các cô các cậu ngoài giờ học chính là một nhiệm vụ, một vinh dự. Có thầy cô hàng tháng báo cáo với Hiệu trưởng rằng tôi bồi dưỡng thêm được bao nhiêu học sinh và coi đó như một thành tích. Đấy là cách dạy thêm như bây giờ chứ có khác gì đâu. Mà lúc ấy có ai lấy tiền, có ai dám tơ hào một đồng, một cắc của học trò. Thầy đã nghèo, trò còn nghèo hơn...

Lời của một thầy giáo già tuổi đã ngoài tám mươi nói lại cho hôm nay nghe giọng xúc động như muốn khóc. Cũng đầy sự hãnh diện của phẩm hạnh một thế hệ người không bị cơm áo và đồng tiền lung lạc.

Ngày ấy, nghèo lắm…

Có cậu chàng nón mê, chân đất đi bộ chín, mười cây số nhịn đói đến trường nay đã là một nhà khoa học. Người học trò hiền lành ngày xưa nay tuy đã về hưu nhưng vẫn tham gia các dự án làm hồi sinh lại những vùng sinh thái bị hủy hoại trong tư cách một nhà lâm học yêu thiên nhiên. 

Cô học trò vào loại hoa khôi thuở trước nay ngót bảy mươi, răng vẫn còn đều, nụ cười vẫn còn tươi sau những ngày tháng làm công nhân, làm lãnh đạo, bây giờ đã là bà và đang làm cô trò nhỏ bên người thầy kính yêu cùng những bạn trai ngày xưa, trong đó có người từng đứng xa nhìn trộm mình với nhiều ước muốn.

Toàn là ông, là bà, là cụ. Không có mái tóc nào còn đen nguyên nữa. Đa phần tóc đã bạc. Ngay cả hoa khôi ngày xưa giờ tóc cũng đã ngả chiều. Vậy mà vẫn thầy thầy em em, cậu cậu tớ tớ. Vui quá có người còn tao tao, mày mày với bạn nữa. Thầy ngồi lẫn với trò. Tuổi tác ở cùng tuổi tác. 

Thời gian đã trôi đi nhưng lúc này thì đang ngưng lại. Đây là phút lắng trầm của ký ức. Phút nín thở để rồi bồi hồi. Trăm năm còn là ngắn thì có gì là dài của cái nỗi xa mới có trên mấy chục năm. 

Hôm nay minh triết bên nhau lại nhớ cái phút trống trường gọi ra chơi, bạn bè rủ nhau chạy vội xuống bến sông hút nhờ ông lái đò ngang đôi điếu thuốc lào. Rồi đứa say nhìn đứa tỉnh. Mặt học trò ngất ngây vì thuốc hay là vì nhau. 

Hôm nay ngồi nâng ly bia ngon mà nhớ những trưa chớm hè tan học qua nhà bạn được bát nước chè lót bụng rồi nôn nao say trên suốt đoạn đường cuốc bộ về nhà bởi chưa có gì lót dạ.

Gian nan vất vả là chuyện thường nhật của những ngày ấy nhưng ai cũng nên người. Bây giờ hầu như ai cũng no đủ cả. Có người còn giàu có nữa. Trong sung túc chẳng quên thuở bần hàn. Bát cơm trộn sắn mẹ nuôi con ngày đi học vẫn là bát cơm ngon nhất. Hụm nước uống cùng thuở học trò bên con sông quê là ngụm nước của những trang cổ tích.

Lại nhớ đến nhau.

Thường nhớ đến nhau.

Và bây giờ đang có mặt bên nhau…!

Ngày ấy, năm ấy… sao nắng nhiều đến thế…

Vậy mà nghe tin nhắn gọi vẫn tìm cách về với nhau. Chưa thể gọi là đông đủ, làm sao có thể đông đủ. Góc bể chân trời, hơn nửa thế kỷ bươn chải. Chẳng có con đường bằng phẳng trong mưu sinh cho mỗi đời người. Nhưng con đường tìm lại nhau, con đường nhớ về với những kỷ niệm đẹp ngày xưa thì mãi mãi là một đại lộ tình cảm cần được nâng niu và bảo tồn...

Ngày ấy, năm ấy… kí ức dẫu là bao xa nữa… với tôi vẫn là mãi mãi!

Phan Quế

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.