Thầy đồ buổi giao thời!

Cuối thế kỷ XIX, ảnh hưởng từ sự xâm lược của phương Tây, xã hội Việt Nam lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện, rõ nhất là về tư tưởng, văn hóa, giáo dục. Những biểu tượng của nền Hán học cũ đang dần vắng bóng rồi mất hẳn vai trò trong một đất nước đang bước ngày một sâu hơn vào con đường Âu hóa. "Bút chì" dần thay thế "bút lông". Nho học suy thoái, Tây học lên ngôi. Rất đúng với nhận định của Mác: Hình thái cuối cùng của lịch sử sẽ xuất hiện hài kịch.

Là nhiệt kế tư tưởng của xã hội, nhiều nhà thơ có tác phẩm thể hiện thái độ châm biếm, đả kích cái lố lăng của xã hội nửa nọ nửa kia. Họ đi tìm một hình tượng điển hình biểu hiện cho sự nghịch lý, suy thoái của thời đại là hình tượng thầy đồ. Không chỉ mang tính xã hội cao, hình tượng này còn là chính họ, mang nỗi lòng của những người yêu nước mà chịu nhìn cảnh nước đang mất. Hơn nữa, viết về giới mình thì thường là sâu sắc hơn!?

Thầy đồ buổi giao thời! -0
Cảnh thầy đồ buổi giao thời!

Một bức chân dung trong "Bài phú ông đồ ngông" của Nguyễn Khuyến: "Râu ria nhẵn nhụi/ Mặt mũi ngông nghênh/ Văn pha Nguyên mặc/ Sách học Quan hành/ Chạy gạo chạy tiền thất điên bát đảo/ Làm gà làm vịt tứ đốm tam khoanh". "Nguyên mặc" là sách chép các bài kinh nghĩa Tàu, "Quan hành" là tên sách do vị quan Hành tham tụng Bùi Huy Bích (1744-1818) soạn theo nguyên tắc giản lược các kinh, truyện sử ngày trước để dạy học trò; "làm gà làm vịt" là chuyện gà bài cho người khác. Chân dung, nghề nghiệp, lối sống, hành vi của hình tượng bị suồng sã (thất điên bát đảo), bị vật hóa (tứ đốm tam khoanh).

Hành động của "thầy" có gì đấy bất minh, lén lút: "Nón sơn úp ngược, đi liểu đi liều/ Bút thủy cài tai, sớn sơ sớn sở". Ứng xử của "thầy" chẳng có gì xứng với tư cách nhà giáo: "Thầy nài nẫm thêm dăm tiền nữa/ Chủ kèo cò đưa mấy đồng ra/ Ruột tượng thắt lưng, nguyên đồ khố rận/ Khăn tay dắt rốn, rặt giống cau già". "Nài nẫm" là nài nỉ xin xỏ chủ nhà cho thêm ít tiền công. Trang phục của "thầy" thì đích thực là một "tiểu nông" chính cống với ruột tượng có nhiều rận bám, khăn tay gói mấy hạt cau già để ăn trầu… Vốn đang ở vị thế được trọng vọng, kính nể "nhất tự vi sư..." nay bị hạ bệ một cách thảm hại. Trong tiếng cười có nước mắt!

Là một thầy đồ chính cống, Tú Xương tự trào: "Có một thầy/ Dốt chẳng dốt nào/ Chữ hay chữ lỏng/ Nghiện chè nghiện rượu, nghiện cả cao lâu/ Hay hát hay chơi, hay nghề xuống lõng" ("Hỏng thi phú"). Thậm chí tự hạ mình xuống hàng du côn lưu manh liều lĩnh: "Quần áo rách rưới/ Ăn uống xô bồ/ Trông thầy phong vận/ Ở chốn thị thành/ Râu rậm như chổi/ Đầu to tầy giành/ Cũng lắm phen đi đó đi đây, thất điên bát đảo/ Cũng có lúc chơi liều chơi lĩnh, tứ đốm tam khoanh" ("Thầy đồ đi trọ").

Tự mình cười mình theo nguyên tắc vật hóa (Râu rậm như chổi/ đầu to tầy giành; tứ đốm tam khoanh) là tiếng cười đau đớn nhất, xót xa nhất. Đào tạo ra những công dân có ích cho xã hội nên nghề dạy học luôn được coi là hình mẫu rất đáng kính trọng. Người thầy tử tế mới có những học trò tử tế. Thế mà người thầy ở đây lại bị miêu tả theo lối tha hóa, nghịch dị, đó là tiếng chuông cảnh tỉnh: xã hội đang bị suy thoái!

Năm 1904, cụ Ngô Đức Kế có "Văn minh tân học sách" phê phán lối học "tầm chương trích cú" từ văn chương điển cố Trung Hoa. Đó là lối dạy học "hủ nho": "Khí học làm sao, hoá học làm sao, cụ dẫn Dịch tượng, Thư trù chi cổ đế/ Cơ khí là thế, điện khí là thế, cụ rằng mộc ngưu lưu mã chi Khổng Minh" ("Văn tế thầy đồ hủ"). Lời văn đối lập một cách triệt để giữa cái "tân kỳ" với "khí học", "hóa học", "cơ khí", "điện khí" và những cái đã cũ tận xửa xưa trong văn hóa Trung Quốc với "Dịch tượng", "Thư trù", "Khổng Minh"... đã diễn tả cái hoàn cảnh lạc hậu đến tội nghiệp của các "cụ" - tức các thầy đồ.

Thầy đồ buổi giao thời! -0
Tranh thầy đồ xưa!

Họ còn đáng thương theo một hướng khác là ảo tưởng về nhận thức với sự "bảo hộ" của nước ngoài: "Cụ phải đeo thẻ, đóng sưu, cụ muốn nước Nhật, nước Tàu sang bảo hộ". Còn là một ảo tưởng về lịch sử dân tộc kỳ vĩ như thế sẽ "phục sinh" hiện tại: "Cụ mà ngâm thơ, đọc phú, cụ mong ông Chèm, ông Gióng chi phục sinh" ("Văn tế thầy đồ hủ"). Không còn là ảo tưởng mà là một tâm lý nô lệ bạc nhược cần phải thay đổi!

Nhà thơ Bùi Huy Phồn dựng lại chân dung "dị dạng" của ông đồ được coi là tầng lớp có học nhưng lại mang tính cách của những kẻ du thủ du thực: "Con gà tức nhau tiếng gáy, hết chia bè chửi đổng vu vơ/ Cặp ếch ghen mồi hoa, đến kéo cánh choảng nhau ầm ĩ" ("Phú ông đồ nho").

Các chí sĩ Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng trong "Lương Ngọc Danh sơn phú" mỉa mai lối học từ chương lỗi thời: "Đại cổ, tiểu cổ trọn ngày miệt mài/ Ngũ ngôn thất ngôn, cùng năm gạn gục/ Văn sách lóng hơi chủ khảo, Thuấn Chích tùy ý khen chê/ Từ, phú học mót bài Tàu đối đáp sắp câu tứ lục/ Tụi công danh láo nháo, chợ Tề trừng trộ cướp vàng/ Phường lợi lộc lau nhau, sân Sở lom khom dâng ngọc".

"Đại cổ, tiểu cổ" là vế lớn vế nhỏ trong bài kinh nghĩa có tám vế (bát cổ), tức suốt ngày chỉ học kinh nghĩa sách vở quá xưa cũ. "Gạn gục", tiếng miền Trung có nghĩa luẩn quẩn, là mỉa những kẻ mọt sách luẩn quẩn, loanh quanh, gặm nhấm các thể thơ, phú mòn sáo. Thuấn, tức vua Thuấn hiền minh. Chích, tức đạo Chích, trùm kẻ trộm. Thế mà vì u mê dốt nát nên vẫn "tùy ý khen chê" lẫn lộn.

"Chợ Tề" là điển tích nước Tề có kẻ cướp vàng giữa chợ bị bắt, bị tra khảo vì sao giữa chợ ban ngày lại đi cướp, y hồn nhiên khai vì chỉ trông thấy vàng chứ không thấy người. Điển này mỉa mai cay đắng những kẻ lóa mắt vì vàng không phân biệt nổi ban ngày ban đêm, chỗ đông người hay chốn không người. "Sân Sở" nhắc chuyện có người tên Biển Hòa quỳ dâng ngọc đá cho vua Sở, bị chặt chân, chặt tay, vẫn không nản chí, đến lần dâng thứ ba mới được vua tin là ngọc thật. Gợi tích này là châm biếm đau đớn những kẻ sẵn sàng hy sinh cả thân thể mình chỉ để đổi lấy cái danh hão hay sự chú ý của bề trên. Những hiện tượng như thế cho thấy một xã hội thật sự tha hóa, bên bờ vực sụp đổ!

Văn minh phương Tây thổi tới cái thứ gió "tân kỳ" làm bay đi cái hình bóng đạo mạo, nghiêm cẩn của thầy đồ "chiếu trải không ngay không ngồi, thịt thái không vuông không ăn" để thay vào đó một hình vẻ mang tính "giải thiêng". Như hình tượng "Thầy đồ ve gái góa" (tên một bài thơ của Nguyễn Khuyến): "Người bảo rằng thầy yêu cháu đây/ Thầy yêu mẹ cháu có ai hay/ Bắc cầu, câu cũ không hờ hững/ Cầm kính, tình xưa vẫn đắng cay".

Lời thơ hóm hỉnh tựa vào câu ca dao cổ: "Muốn sang thì bắc cầu kiều/ Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy". Nhưng "mẹ cháu" yêu thật. Thầy cũng yêu nhưng thầy giả vờ nên "mẹ cháu" trách xa xôi qua ý câu ca dao: "Trách người quân tử vô tình/ Có gương mà để bên mình không soi". Người xưa có gương không soi, còn "thầy" nay chỉ biết "cầm kính"... Cuối cùng là họ cùng lật tẩy một tình thế: "Ở góa thế gian nào mấy mụ?/ Đi ve thiên hạ thiếu chi thầy?".

Lại có kiểu thầy đồ bàng quan, "đắp tai cài trốc" ngoảnh mặt với xã hội, tự coi mình là tài năng bị "hắt hủi": "Lơ lơ lửng lửng yêu nường nguyệt/ Tỉnh tỉnh say say cụ hợm trời" (Phan Bội Châu - "Cảm tác").

Thậm chí có thầy đồ hạ mình đến mức thảm hại chỉ để mong có được hai chữ bình an: "Nay xuống tỉnh bị sứ Tây đá đít: "dĩ tẩu vi tiên"/ Mai lên đồn bị chú lính bợp tai: "dĩ hòa vi quý" (Bùi Huy Phồn - "Phú ông đồ nho"). Bị sứ Tây làm nhục thì coi việc chạy đi là thượng sách (dĩ tẩu vi tiên), bị lính đồn đánh thì lấy hòa làm quý (dĩ hòa vi quý)...!!!

Từ góc nhìn ký hiệu học thì con chữ là ký hiệu quan trọng bậc nhất, là mã văn hóa cơ bản của thời đại. Chữ Nho ngày trước được coi là chữ "Thánh hiền" trân trọng, quý giá nhưng đến thời này thì bị rẻ rúng, coi thường. Vì chính các thầy đồ coi rẻ nó: "Chữ tứ thể lầm vài bốn lỗi, nét cứng như đanh/ Sách thập khoa quên đủ mười bài, văn trơ như thép" (Nguyễn Khuyến - "Bài phú ông đồ ngông"). "Tứ thể" là bốn lối viết chữ Hán (chân, thảo, triện, lệ) không chỉ viết "lầm vài bốn lỗi" mà "thầy" viết xấu "nét cứng như đanh". "Sách thập khoa" là sách chép các bài văn về mười vấn đề lớn, không chỉ quên cả "mười bài" này mà văn thầy còn khô cứng "như thép"...

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam nhà nho/ thầy đồ là hiện thân của trí tuệ, lương tri đất nước, thế mà lúc này bị giễu nhại thảm hại như vậy tức xã hội đã ở vào hoàn cảnh một bi kịch rất cần sự thay đổi triệt để!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).