Tháp những mô hình thế giới

Cấu trúc biểu nghĩa của hình tượng tháp trước nay có thể quy về mấy ý thống nhất sau: hướng lên trời cao, nhiều tầng, biểu hiện một sự chiếm lĩnh không gian, ký thác một khát vọng nào đấy... Trong từ vựng nhiều ngôn ngữ, tháp gần gũi với “cây vũ trụ”, “cây thế giới”, “cây linh hồn”, “trụ”, “thang”...

Thực ra biểu tượng nào, nhất là các biểu tượng nguyên thủy (mẫu gốc) cũng là một mô hình về thế giới, nên bài viết lẽ ra phải có tên là “Tháp – Những mô hình thế giới của những khát vọng mãnh liệt”!

Quần thể di tích Angkor.
Quần thể di tích Angkor.

Khát vọng có ở bất cứ ai, bất cứ thời nào. Đó là một biểu hiện nhân tính rõ nhất về sự thay đổi, sự vươn lên. Không còn khát vọng tức sự sống dừng lại. Càng từ thời xa xưa, hình tượng tháp càng mang một biểu hiện tập trung, một sự mã hóa của thế giới tinh thần con người. Thế nên hầu như dân tộc/tôn giáo nào cũng có biểu tượng tháp.

Sách “Sáng thế” kể lại câu chuyện về tháp Babel (còn gọi là Babylon). Sau trận Đại hồng thủy, con người (hậu duệ của Noah) theo thuyền dạt về phía Đông rồi định cư ở vùng đất có tên Shinar. Lúc bấy giờ, con người còn dùng chung một ngôn ngữ. Họ bàn nhau định dựng nên một ngọn tháp thật cao lớn làm biểu tượng cho loài người lấy tên là tháp Babel. Ngọn tháp này sẽ  đưa người lên tới Thiên đàng. Con người sẽ hạnh phúc, sẽ bất tử. Biết được ý đồ ấy Chúa Trời bèn bắt mỗi nhóm/tộc người nói theo một thứ tiếng khác nhau. Ngôn ngữ là công cụ cơ bản của giao tiếp. Mà có giao tiếp mới có sự sống, mới có thể trao đổi, bàn bạc... Thế nên kế hoạch xây tháp Babel bị phá sản!

Ngày nay nhiều chứng cứ khảo cổ học khẳng định câu chuyện trên ít nhiều có thật. Điều ấy không quan trọng bởi hình tượng này đã đi vào lịch sử văn hóa nhân loại và trở thành một biểu tượng về khát vọng lớn lao chinh phục không gian của con người. Ngày nay ai cũng thấy tháp chuông nhà thờ Công giáo luôn phải cao nhất, như muốn vươn vào trời xanh để đem tiếng chuông thỉnh cầu gửi tới Nước Thiên Đàng. Đó chẳng phải là một khát vọng rất đẹp hướng con người tới cái cao cả đó sao?

Đấy còn là một ngụ ngôn vĩ đại với các lời răn: đối với con người quan trọng nhất là đường đi, không có đường thì không bao giờ đến đích. Con người vĩnh viễn không lên được Thiên Đàng vì tháp (đường) bị dừng lại; càng làm việc lớn càng phải hiểu nhau để đoàn kết. Không hiểu nhau nên tháp Babel không thể tiếp tục; “Khởi thủy là Lời”. Kinh Thánh dạy như vậy. Câu chuyện này có lẽ minh họa cho chân lý ấy. Phải có “lời/nhời” với nhau, tức phải giao tiếp, phải quan hệ, phải thấu hiểu để thấu cảm... thì mới có thể cùng nhau, ngày nay gọi là “đối thoại văn hóa”...

Với Phật giáo thì chùa đi liền với tháp. Tháp, tiếng Phạn làstupa có nghĩa là nấm mồ. Ban đầu tháp là nơi để tro thân, xá lợi của Phật rồi dần dần trở thành nơi được thờ phụng tôn kính thiêng liêng. Được thiêng hóa nên có tên gọi “bảo tháp” (“bảo” nghĩa là quý giá), là nơi cất giữ những gì quý giá như kinh Phật. Hiện nay ở Myanmar, trong  ngôi chùa Kuthodaw có 729 tháp (gọi là pitaka), mỗi tháp chứa một bia đá khắc một trang kinh của bộ kinh Phật. Theo thời gian các lớp ý nghĩa càng dày thêm bao bọc mẫu gốc.

Theo các sách về kiến trúc Phật giáo thì vòm tháp biểu tượng cho vòm hư không, vòm trời, Thượng Thế. Đế tháp vuông biểu tượng cho cõi giữa trần gian, Trung Thế và phần hầm biểu tượng cho Hạ Thế. Trục tung thẳng đứng của tháp là biểu tượng Cây Vũ Trụ/Cây Tam Thế/Cây Đời Sống. Bốn mặt tháp và cửa tháp ứng với bốn phương trời biểu tượng cho “tứ tượng”. Chỏm tháp biểu tượng cho đỉnh vũ trụ. Lịch sử kiến trúc Phật giáo cho biết tháp cổ nhất (khoảng hơn 2000 năm) hiện còn phế tích ở Madhya Pradesh có hình vòm cầu tròn mang dáng dấp một ngôi mộ!

Tháp Babel trong tranh thời Phục hưng!
Tháp Babel trong tranh thời Phục hưng!

Ở ta, vua Lý Thánh Tông (1023-1072) cho xây chùa Báo Thiên năm 1056 và dựng tháp Đại Thắng Tư Thiên năm 1057. Sách “Đại Việt sử lược” chép tháp cao 30 tầng, sách “An Nam chí lược” chép tháp cao 13 tầng. Đáng tin hơn là sách “Tang thương ngẫu lục” cho rằng tháp cao 12 tầng (vì Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án là các học giả học rộng đọc nhiều, ý kiến các ông rất đáng tin). Tên chùa Báo Thiên có ý nghĩa gì? Có thể hiểu là báo đáp ân đức của chư Thiên (!?). “Đại Thắng Tư Thiên” có thể hiểu là nhận lấy sự suy tư lớn của chư Thiên (!?). Đó chẳng phải là khát vọng mong muốn có sự che chở của Trời Phật đó sao!

Kim tự tháp không chỉ có ở Ai Cập mà có ở rất nhiều nơi là cách gọi chung cho các kiến trúc hình chóp có đáy hình vuông và bốn mặt bên là tam giác đều. Cách hiểu thông thường thì Kim tự tháp Ai Cập là công trình được xây dựng và sử dụng như một lăng mộ dành cho các Pharaon – các Hoàng đế vĩ đại. Sử sách để lại cho biết các nhà vua ngay sau khi lên ngôi, việc đầu tiên họ làm sẽ là bắt đầu xây dựng kim tự tháp cho riêng mình. Kim tự tháp của các nền văn minh người Maya (châu Mỹ) được sử dụng làm nơi hiến tế (người) cho thần linh... Hầu hết các loại tháp đều là cấu trúc lăng mộ. 

Có nhà nghiên cứu khẳng định bề mặt nhiều Kim tự tháp (kể cả ở Ai Cập) chính là các bậc thang để linh hồn lên trời đi vào cõi bất tử! Không chỉ người Ai Cập cổ đại mới có châm ngôn: “Trong cát bụi cuộc đời, chính là chúng ta đang ở trong cái chết, nên để đón cái sống, phải chuẩn bị thật chu đáo”. Mà hầu như có ở tất cả cư dân thời đó. Ngay người Việt xưa cũng có quan niệm sống chỉ là “tạm” (cõi tạm) còn “thác về”, tức về cõi chính...

Hình tượng tháp Chăm của ta đóng góp cho thế giới một mô hình kiến trúc đặc sắc. Tháp xây bằng gạch nung màu đỏ sẫm lấy từ đất địa phương. Kiến trúc tháp phía trên mở rộng và thon vút hình bông hoa. Mặt bằng tháp đa số là hình vuông (như bậc thang lên trời vậy!?). Các tầng tháp thường có cửa duy nhất mở về hướng Đông hướng Mặt Trời mọc, hướng của sự sống, sinh sôi, bên trong đặt một bệ thờ thần bằng đá. Mặt ngoài tháp được chạm khắc rất sinh động hình hoa lá, chim muông, vũ nữ, thần thánh...

Đất nước Chùa Tháp Campuchia có quần thể Angkor huyền bí và mời gọi. Đặc sắc đến kinh ngạc của các tháp là kỹ thuật ghép các khối đá không sử dụng chất kết dính nhưng đã bền vững cùng thời gian từ thế kỷ XII. Đền Bayon là một đền tháp ba tầng mở ra bốn hướng có 216 gương mặt cùng những nụ cười khổng lồ đầy bí ẩn cũng là những khát vọng mà đến nay con người chưa giải mã được.

Vì cùng là biểu hiện khát vọng nên thơ ca tìm đến biểu tượng tháp như một sự “đồng khí tương cầu”. Chế Lan Viên – một “thiên tài thơ ca” viết nhiều, viết hay, viết sâu sắc về biểu tượng tháp Chàm. Ông để lại bài thơ “Tháp Bayon bốn mặt”: “Anh là tháp Bayon bốn mặt/ Giấu đi ba, còn lại đấy là anh/ Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc/ Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình”. Bài thơ cũng “bí ẩn” như chính hình tượng ngoài đời. Phải chăng đây là cấu trúc về phẩm tính thi nhân: phải có “bốn mặt” để quan sát/thu nhận cuộc đời nhưng phải giấu đi “ba”. Cái “mặt” còn lại phải biết “diễn” đủ trò bi hài kịch làm chính thi nhân cũng phải đau đớn, xót xa, bẽ bàng...

Đến Qui Nhơn, nhạc sỹ- thi sỹ Văn Cao làm “rơi” vào thơ ca Việt Nam hiện đại những câu thơ bất tử “Từ trời xanh/ rơi/ vài giọt tháp Chàm”… Tức những ngọn tháp ấy không phải của người mà là của Trời. Trời cho. Trời ban tặng hay Trời vô tình “đánh rơi”!? Chỉ biết là rất quý!... Ai từng qua đây mới thấy cảm nhận của Văn Cao là thật và cũng cực kỳ tinh tế, mới mẻ. Từ dưới đường đi nhìn lên, quả thật, những ngọn tháp cô đơn như từ trời cao trong vắt rơi xuống như những giọt “vàng”. Thơ ca là sự phát hiện. Bao thi nhân trước đó, nhìn thấy mà không nhận thấy...

Nhà thơ người Chăm Inrasara có bài “Tháp nắng” đặc sắc: “Biết mấy trăm năm rồi tháp đứng/ Biển bên kia và tháp bên này/ Biết mấy vạn đời rồi tháp nắng/ trên đồi hoang/ như dấu lặng/ phơi bày”… Điểm nhìn của Văn Cao là của người lữ khách từ dưới nhìn lên thấy tháp như “giọt”. Inrasara nhìn ngang, bao quát thấy tháp như một “dấu lặng”. Cả hai đều có liên tưởng đột xuất, độc đáo. “Tháp nắng” tức là tháp của trời đất, của vũ trụ. Nhưng tại sao lại như “dấu lặng”? “Dấu lặng” là ký hiệu thể hiện một khoảng dừng nghỉ trong bản nhạc. Các nốt nhạc phát ra âm thanh còn dấu lặng thì không. Đặt “dấu lặng” ngọn tháp Chàm vào trong không gian: “Không một bụi cây- không một làn mây/ Bao la nắng và mênh mông cát/ Âm thanh câm- thời gian vắng mặt...” càng thấy cái “dấu lặng” kia hoang vu, cô đơn làm sao. Ý thơ nhức nhối: chả lẽ quá khứ vàng son là “dấu lặng” sao?!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).