Kỷ niệm 70 năm Ngày Giải phóng Thủ đô, 10/10/1954 - 10/10/2024

“Thăng Long sử thi” - khúc tráng ca một thời giữ nước

"Thăng Long sử thi" một sáng tác của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội và được trao giải thưởng trong cuộc thi thơ năm 2010. Bài thơ gồm 15 khổ, được viết với thể thơ tám chữ. Đây là khúc tráng ca đầy hào khí, ca ngợi hình hài Thủ đô của non sông nước Việt. Một bức tranh thi ca đồ sộ, nơi tác giả khéo léo phác họa hình tượng Thăng Long - Hà Nội qua dòng chảy lịch sử.

THĂNG LONG SỬ THI

                  (Thơ Nguyễn Việt Chiến)

Ngàn năm trước sông Hồng tìm ra biển
Đã một lần ngủ lại ở Thăng Long
Trăng rạo rực bên Tây Hồ sen nở
Sau một đêm sông Cái bỗng hóa Rồng

Ngàn năm cũ Ba Vì chân đạp sóng
Trán oai linh mây Tản, gió sông Đà
Theo nhịp trống những con Hồng cháu Lạc
Quần tụ về thành cũ phía Đại La

Ngàn năm trước Xứ Đoài mưa buồn lắm
Những nếp chùa thiếp ngủ dưới rêu phong
Bao dáng Phật oằn mình trong tượng đất
Cõi hư vô hương khói phải đi vòng

Ngàn năm cũ rùa thiêng còn giữ nỏ
Trời Cổ Loa mây lông ngỗng sững sờ
Khi giặc đến trên mỗi vòng thành ốc
Vạn tên đồng sáng quắc giáo gươm khua

Ngàn năm trước lời thề đền Đồng Cổ
Thỉnh trống đồng về mở hội non sông
Đây linh vật của một thời Việt cổ
Nắng Đông Sơn còn vọng gió sông Hồng

Ngàn năm cũ Chiếu dời đô người thảo
Chọn Thăng Long thế rồng cuộn hổ ngồi
Nơi thắng địa ta nhìn sông tựa núi
Đặt Kinh đô cho con cháu muôn đời

Ngàn năm trước Hoàng thành vừa khởi dựng
Điện Càn Nguyên tọa trên đỉnh núi Nùng
Lý Thái Tổ thiết triều trong gió sớm
Tiếng chuông chùa Trấn Quốc đọng thành sương

Còn vang bóng suốt ngàn năm quật khởi
Bản Tuyên ngôn trên chiến lũy sông Cầu
Lý Thường Kiệt ngâm bài thơ đuổi giặc
Núi sông này có chủ đã từ lâu

Thuở giặc đến Thăng Long thành chiến địa
Đông Bộ Đầu khói lửa ngút trời mây
Tiếng Sát Thát giục hùng binh xung trận
Hưng Đạo Vương truyền hịch giữa đêm dày

Thăng Long hỡi khi ba lần giặc đến
Hàm Tử Quan dậy sóng rửa máu thù
Đánh cho khiếp trống đồng rung bạc tóc
Bạch Đằng Giang cuồn cuộn đến tận giờ

Thuở Lê Lợi dấy binh đòi lại nước
Trúc Lam Sơn cũng nhọn hoắt tên đồng
Nhìn vó ngựa giặc tràn lên Ải Bắc
Núi non mình đâu cũng thấy Chi Lăng

Thăng Long gọi mùa hoa đào chiến trận
Tết Quang Trung hỏa hổ đốt Ngọc Hồi
Bầy voi chiến cùng mở đường xung trận
Vạn giặc thù tan tác phía hoa rơi

Đêm Hà Nội xẻ mình làm chiến lũy
Cả trung đoàn quyết tử giữ Thủ đô
Thắng giặc Pháp, các anh về trở lại
Một rừng cờ xòe năm phía cửa ô

Đêm một chạp dưới mưa bom rải thảm
Đất Rồng bay nổi lửa quét giặc thù
Hà Nội đánh pháo đài bay tan xác
Sóng sông Hồng lại cuộn đỏ trong thơ

Ngàn năm trước cha ông đi mở nước
Dựng Hoàng thành dựng hùng khí Thăng Long
Ngàn năm sau cháu con đi giữ nước
Vẫn còn nguyên hùng khí thuở Tiên - Rồng

                                                   2/2010

Hà Nội trong không khí rạo rực bước sang tháng 10 làm sống dậy ký ức hào hùng của nhiều người con nơi đây hân hoan trong niềm vui chiến thắng của 70 năm về trước: Ngày Giải phóng Thủ đô. Chiến thắng Điện Biên Phủ là dấu son chói lọi mở ra ngày 10/10/1954, sau 9 năm trời đằng đẵng kháng chiến, đoàn quân trở về giữa một ngày nắng đẹp đầy hoa.

untitled-1.jpg -0
Cột cờ Hà Nội. (Ảnh minh họa)

Tất cả cảnh sắc ngày đó, từ xưa tới nay, có biết bao nhiêu văn nghệ sĩ đã kịp thời lưu giữ lại. Biết bao lời ca, ý thơ hay về Hà Nội đã ra đời, và “Thăng Long sử thi” hiện lên như một dải lụa thêu dệt tinh xảo, vừa rực rỡ sắc màu lịch sử, vừa thấm đẫm hơi thở của thời đại.

Đêm Hà Nội xẻ mình làm chiến lũy
Cả trung đoàn quyết tử giữ Thủ đô
Thắng giặc Pháp, các anh về trở lại
Một rừng cờ xòe năm phía cửa ô

"Thăng Long sử thi" một sáng tác của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội và được trao giải thưởng trong cuộc thi thơ năm 2010. Bài thơ gồm 15 khổ, được viết với thể thơ tám chữ. Đây là khúc tráng ca đầy hào khí, ca ngợi hình hài Thủ đô của non sông nước Việt. Một bức tranh thi ca đồ sộ, nơi tác giả khéo léo phác họa hình tượng Thăng Long - Hà Nội qua dòng chảy lịch sử.

Chất thơ trong tác phẩm này như một bản hòa tấu độc đáo, thi vị pha trộn giữa cổ điển và hiện đại. Nguyễn Việt Chiến linh hoạt khi sử dụng thể thơ tám chữ (thơ tự do có vần) để bài thơ không bị gò bó như thể loại khác, nhưng lại mang đến hơi thở mới mẻ thông qua cách sử dụng ngôn ngữ hiện đại, đặc biệt dậy lên muôn trùng các lớp sóng chữ nghĩa. Nhịp điệu đều đặn, trang nghiêm, phù hợp với việc tái hiện các sự kiện lịch sử quan trọng. Trong khi đó, những đoạn thơ tự do lại tạo nên không gian cho cảm xúc được bung tỏa, những suy tưởng được bay bổng.

Cấu trúc bài thơ được vun đúc một cách tỉ mỉ, mỗi khổ thơ là một mảnh ghép vừa vặn, không thừa không thiếu. Có một gạch nối mở đầu bài thơ, hình ảnh “sông Hồng tìm ra biển”, “sông Cái bỗng hóa Rồng” về sự ra đời huyền thoại, cái ẩn dụ tự nhiên về sự chuyển mình, thức tỉnh của vùng đất linh thiêng. Hình tượng Rồng biểu trưng cho sự thăng hoa, phát triển của vùng đất kinh kỳ, hiện thân của sức mạnh, khí phách và trí tuệ của dân tộc Việt Nam.

Các địa danh lịch sử gắn liền với mỗi giai thoại, mỗi câu chuyện anh hùng như: Ba Vì, Tây Hồ, Xứ Đoài, Cổ Loa, đền Đồng Cổ,… được điểm qua như những mốc không gian, tạo nên địa đồ văn hóa - lịch sử. Phải khẳng định hình tượng Hà Nội ở đây được xây dựng qua nhiều lớp lang lịch sử, từ “Ba Vì chân đạp sóng” và “mây Tản, gió sông Đà” - những biểu tượng hồn thiêng sông núi đặc trưng.

Hà Nội trong thơ cứ lặng lẽ hiển lộ những vẻ đẹp văn hiến qua tháng năm với bao trầm tích văn hóa. Điệp ngữ “Ngàn năm trước” và “Ngàn năm cũ” trở đi trở lại nhiều lần ngoài việc tạo nên âm hưởng nhịp điệu còn đề cập đến chiều dài lịch sử Thăng Long - Hà Nội. Từ nỗi niềm cảm xúc dâng trào tột đỉnh, nhà thơ Nguyễn Việt Chiến đã đưa người đọc vào cùng bậc cảm động, tự hào về mảnh đất Cố đô Hà Nội nghìn năm văn hiến đã phải oằn mình trải qua nhiều cuộc chiến chinh, bão táp mà vẫn sừng sững hiên ngang.

Tuy nhiên, điều làm nên sức hấp dẫn sâu lắng của bài thơ chính là những rung động trữ tình, tinh tế được đan cài vào dòng chảy sử thi. Những hình ảnh “Trăng rạo rực bên Tây Hồ sen nở”, “Những nếp chùa thiếp ngủ dưới rêu phong” hay “Tiếng chuông chùa Trấn Quốc đọng thành sương” vô hình chung đem tới những khoảng lặng đẹp đẽ, uy phong của Hà Nội.

Cảm xúc mà nhà thơ đưa vào từng câu chữ như hạt nắng, hạt mưa, như hơi thở hay mầm cây hé sáng, cứ hồn nhiên đơm hoa kết trái theo từng năm tháng. Dòng chảy liên tục, khi dâng trào mãnh liệt với niềm tự tôn dân tộc, khi lắng đọng trong những suy tư về dòng thời gian. Lần theo từng dấu vết trong bức tranh thi ca này, một Hà Nội cổ kính đa diện theo nhiều chiều kích: vừa cổ kính, trầm mặc với những di tích lịch sử, vừa sôi động, hào hùng qua các cuộc kháng chiến.

Ở một góc khác xa hơn, di sản văn học dân tộc nói chung và chủ đề dáng hình đất nước trong thơ ca Nguyễn Việt Chiến nói riêng, là chứng nhân ghi lại những dấu mốc lịch sử vẻ vang, oanh liệt một thời mà cha ông ta đã phải hy sinh máu thịt, đánh đổi mang về tự do, độc lập ngày hôm nay. Bởi vậy, thơ ca cuốn hút ở chỗ nếu nó có thể đọng lại điều gì đó với con người chính là việc mang tới cảm xúc, khơi dậy những mảng tâm tư chất chứa ẩn sâu trong tâm hồn người.

Một trong những điểm mạnh của “Thăng Long sử thi” chính ở khả năng kích thích suy tưởng và liên tưởng của độc giả. Với việc đặt ra những câu hỏi và suy ngẫm về bản chất lịch sử, về sự tồn tại và phát triển của Thăng Long - Hà Nội qua các thời kỳ. Vậy lý tưởng cao cả ở đây là gì? Câu kết của bài thơ mang sức vóc rõ nét minh chứng cho điều này:

Ngàn năm trước cha ông đi mở nước
Dựng Hoàng thành dựng hùng khí Thăng Long
Ngàn năm sau cháu con đi giữ nước
Vẫn còn nguyên hùng khí thuở Tiên - Rồng
”.

Đoạn kết là tiếng nói tổng kết và khẳng định mạnh mẽ về sức mạnh tinh thần, truyền thống bất khuất của dân tộc. Điểm nhìn tinh tường của nhà thơ rất sâu, để gợi dậy nối vào nhau trong cái liên tưởng giữa “ngàn năm trước” và “ngàn năm sau”, giữa “đi mở nước” và “đi giữ nước” chập lại thành một vòng tròn lịch sử hoàn hảo, một sự kế thừa, tiếp nối của các thế hệ người Việt.

Trong bối cảnh kỷ niệm 70 năm Giải phóng Thủ đô, bài thơ “Thăng Long sử thi" càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, góp phần tôn vinh hình ảnh Thăng Long - Hà Nội xưa kia đã từng là trung tâm của mọi biến cố lịch sử. Tầm ảnh hưởng không chỉ dừng lại ở giá trị văn học thuần túy, bài thơ đã trở thành công cụ giáo dục lịch sử và truyền thống yêu nước hiệu quả, đặc biệt là đối với lớp trẻ.

Vũ Minh Châu

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).