Tháng ba lễ hội chùa Thầy

Tháng ba, khi những chùm hoa gạo thắp lửa đỏ thắm như những cặp môi ăn trầu cắn chỉ của những cô thôn nữ xứ Đoài. Tháng ba, khi những thân lúa óng ả đang thì con gái, mơn mởn chuẩn bị làm đòng, nghén thai cho một mùa vàng trĩu hạt cũng là những ngày tháng nông nhàn. Già trẻ, trai gái vùng Phủ Quốc lại nô nức rủ nhau đi chơi hội chùa Thầy.

Tháng ba.

Tháng ba của ca dao là tháng của lễ hội: "... Tháng ba hội hè..." thì ở vùng Phủ Quốc quê tôi có rất nhiều lễ hội. Một trong những lễ hội đặc sắc, mang đậm tín ngưỡng dân gian là lễ hội chùa Thầy được tổ chức vào ngày mùng bảy tháng ba âm lịch hàng năm.

Tháng ba, khi những chùm hoa gạo thắp lửa đỏ thắm như những cặp môi ăn trầu cắn chỉ của những cô thôn nữ xứ Đoài. Tháng ba, khi những thân lúa óng ả đang thì con gái, mơn mởn chuẩn bị làm đòng, nghén thai cho một mùa vàng trĩu hạt cũng là những ngày tháng nông nhàn. Già trẻ, trai gái vùng Phủ Quốc lại nô nức rủ nhau đi chơi hội chùa Thầy.

Khuôn viên tuyệt đẹp ở chùa Thầy.
Khuôn viên tuyệt đẹp ở chùa Thầy.

Người già đến lễ chùa, cầu mong cho mưa thuận gió hoà, gia đình khang tấn, con cháu ăn nên làm ra, yên bề gia thất… Trẻ choai choai súng sinh trong bộ quần áo mới, trên đường về hội tha hồ ném và cướp nhau những bông hoa gạo rụng, cười tít mắt trước những màn múa rối nước trên hồ Long Trì rồi lận túi lấy năm xu, một hào mua một đoạn mía re, mía bầu làm gậy chống để leo lên mấy trăm bậc đá, lên tới chợ Trời và được thập thò nghé vào hang Thánh Hóa, nơi thiền sư Từ Đạo Hạnh hiển thánh… 

Cho đến xế chiều thì đoạn gậy chống cũng đủ làm tan cơn khát, hết mỏi chân và đủ sức đi bộ về nhà. Còn trai gái đến hội là cái cớ để giao duyên. Gái mắt lá răm lúng liếng cùng những chiếc bao xanh phất phơ trong gió xuân rời rợi, đung đưa cùng áo mớ bảy mớ ba, ngực thanh tân vồng lên qua lần yếm đào, yếm trắng. Trai lực điền, vâm váp, cánh tay săn chắc cầm cày chìa vôi lật đất băng băng bỗng trở nên thơ thái và có phần nho nhã trong bộ áo the, khăn gõ trên đường về hội. Từng tốp, từng tốp trai làng đứng giăng hàng trên những bậc đá, hội đông đường hẹp nên người lại chen người. Nhiều đoạn lên núi người nêm người chật như nêm cối. 

Đây cũng là cơ hội để những chàng trai thể hiện lòng mã thượng và khí phách đàn ông, ngăn không cho đám đông làm bẹp chiếc nón Than (nón do người làng Ngọc Than làm ra) của người con gái. Cái nón bẹp kể thì cũng tiếc, nhưng tiếc là tiếc cho những tấm thân ngọc ngà, trinh trắng bị dồn ép, bị chà xiết… Cầm chặt tay nàng, kéo ra khỏi đám đông đang chen lấn và xô đẩy để nhận được một ánh mắt hàm ơn và cái sức trai vâm váp luôn phải gồng lên hộ tống cho nàng lên tới đền Thượng. Tóc mai của nàng bết trong mồ hôi giờ bỗng bay bay trong gió từ đồng Bương, Cấn thổi về.

“Nào em đưa anh dắt tay/ Lên cao mái tóc em bay gió đồng…”.

Ngọn gió xuyến xao đã làm cho dải lưng xanh, cho tà áo mớ ba mớ bảy tung bay. Ngọn gió xuyến xao như đánh thức những rung động đầu đời của những đôi trai gái khi đi chơi hội chùa Thầy.

Thủy đình ở chùa Thầy.
Thủy đình ở chùa Thầy.

Không phải ngẫu nhiên mà người Phủ Quốc quê tôi vẫn lưu truyền câu ca dao:

“Gái chưa chồng nhớ hang Cắc Cớ
Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy”.

Đi chơi hội mà không xuống hang Cắc Cớ thì xem như bằng chưa đến hội.

Sao người Phủ Quốc quê tôi lại quen gọi là hang Cắc Cớ (Thực ra là động Thần Quang?).

Để có thể vào hang, các cô thôn nữ đều phải nhận sự trợ giúp của những chàng trai. Cầm lấy tay nhau kéo lên, có những bước sang ngang, bên kia một chàng trai giang tay đón, bên này một chàng trai giữ tay, thậm chí bằng đôi tay mạnh mẽ, xiết lấy eo lưng thon mềm mà đưa chuyền sang phía bên kia. Đường xuống hang vừa tối vừa trơn, các cô thôn nữ luôn phải bám chặt vào những chàng trai… 

Thế mới biết người xưa vừa hiện sinh lại vừa hiện đại. Trong cái vòng cương tỏa của lễ giáo và tập tục, con người nói chung và nhất là những người con gái, con trai đang rừng rực lửa yêu đương, họ tìm đến những hội Dã La “Nhất vui là hội Phủ Dày / Vui thì vui vậy không tày Dã La”, cũng như mong vào hang Cắc Cớ dịp hội chùa Thầy, mong chờ mươi mười lăm phút tắt nến, tắt đèn, tắt đuốc để được nắm lấy tay nhau, được ghì lấy eo lưng, để được cảm nhận sự mềm ấm, ngất ngây từ một nửa thân xác của mình, để được tự giải phóng thân thể, tự vượt thoát ra khỏi những sơi dây trói buộc vô hình liệu có phải là cái “cớ” đi chơi hội của trai gái vùng Phủ Quốc thời xưa? 

Cũng dễ dàng lý giải về mặt phương ngữ: “Cắc”, “Khắc?”. Dù là Hán ngữ hay thuần Việt thì cũng thể hiện một thời gian rất ngắn. Dẫu chỉ là một thời gian ngắn ngủi để có cơ hội, để có cơ duyên gặp nhau, khơi gợi cảm xúc và có thể đến với nhau và nên vợ thành chồng hay chỉ là một lần cuối cùng thay cho lời vĩnh biệt bởi những tréo ngoe, ngang trái của cuộc đời?

Với một lần đi chơi hội chùa Thầy vào ngày mùng bảy tháng ba âm lịch hàng năm của những đôi trai gái, bao giờ cũng là những “Ngày vui ngắn chẳng tày gang”. Đã cảm nhau rồi, lúc chia tay nhau dùng dằng, bịn rịn bởi nặng nghĩa, nặng tình. Người con gái quay mặt đi hướng khác, nâng dải bao xanh chấm vội hai giọt nước mắt mới trào ra, khiến cho đôi mắt vốn đã ướt đen lại càng thêm ướt.

Cầu Nhật Tiên ở chùa Thầy.
Cầu Nhật Tiên ở chùa Thầy.

Đưa tiễn nhau về tới đầu làng, nơi có cây đa đã mấy trăm năm tuổi, buông rễ từ cả những cành cao chót vót như một bức mành thiên tạo và một ngôi miếu rêu phong, hoang vắng. Một cái mốc giới vô hình với những thử thách nghiệt ngã để cho cả đôi bên trai gái có đủ niềm tin và sự can đảm để vượt qua, đến với nhau theo đúng nghĩa phu thê trước những tập tục, với những quan niệm “Trâu ta ăn cỏ đồng ta”. 

Những cây đa, cây gạo đầu làng mấy trăm năm tuổi chính là những chứng nhân, đã từng chứng kiến không biết bao nhiêu sự thành bại trong hôn nhân của bao thế hệ gái trai người Phủ Quốc. Ngôi miếu rêu phong, hoang vắng vẫn là nơi mà những đôi trai gái hẹn hò. Đã có không ít những cặp đôi đến miếu hoang chỉ để nhìn thấy nhau gạt nước mắt, ngậm ngùi chia tay vì những tập tục gả bán, cưới hỏi, vì những mối thâm thù với những lời nguyền truyền kiếp. Có những cặp đôi đến miếu hoang sụp lạy trước thần linh, ngoảnh mặt về phía làng mình mà chắp tay, khấu đầu ba vái rồi cùng nhau bỏ làng đi biệt tích theo tiếng gọi của tình yêu…

Bao nhiêu năm thế thái nhân tình cùng những thăng trầm của lịch sử, nhưng lễ hội Chùa Thầy thì năm nào cũng mở mỗi dịp mùng bảy tháng ba âm. Năm nào người cũng chen người để lên hang Cắc Cớ. Liệu nó có còn giữ được nét đẹp nhân văn, được là cái “Cớ” cho những tình yêu lứa đôi mãi mãi thăng hoa.

Triệu Văn Đồi

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).