"Thần phù hải khẩu dạ bạc" của Nguyễn Trung Ngạn: Một kiệt tác văn chương

Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370), tên chữ là Bang Trực, tên hiệu là Giới Hiên. Ông quê làng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi, nay là huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Nguyễn Trung Ngạn đỗ Hoàng giáp khi ông mới 16 tuổi.

Năm đầu triều đại vua Trần Minh Tông (1314), Nguyễn Trung Ngạn được cử làm Chánh sứ, cùng Lang Trung Phạm Mại sang nhà Nguyên đáp lễ. Đây là lần đi sứ thứ nhất trong đời làm quan của Giới Hiên, khi ông mới 26 tuổi. Nguyễn Trung Ngạn là một nhân vật lịch sử nổi tiếng, đồng thời, ông cũng là một thi sĩ cỡ lớn, chẳng những ở đời Trần, mà còn là ngôi sao sáng của nền thơ Đại Việt.

“Thần Phù hải khẩu” là một trong khá nhiều bài thơ xuất sắc của Nguyễn Trung Ngạn.

THẦN PHÙ HẢI CẢNG DẠ BẠC

Ba dao nhật cước tán hà hồng,
Vô hạn ngư gia lạc chiếu trung.
Nhất thủy bạch tòng thiên thượng lạc,
Quần sơn thanh đáo hải môn không.
Long quy động khẩu tình sinh vụ,
Ngư phún trào đầu mộ khởi phong.
Độc phiếm lan châu quan hạo đãng,
Hốt nghi thân tại Lạn Ngân cung.

Dịch nghĩa:

ĐỖ THUYỀN Ở CỬA BỂ THẦN PHÙ

Sóng lay bóng nắng chiều, ráng vàng lung linh,
Vô số nhà chài ẩn trong nắng chiều.
Một dòng nước trắng từ trên trời đổ xuống,
Mấy chòm núi xanh đến cửa bể thì nhạt màu.
Rồng về cửa động trời tạnh hóa mù,
Cá kình phun đầu sóng, chiều hôm nổi gió.
Một mình cưỡi chiếc thuyền gỗ mộc lan ngắm cảnh bát ngát,
Ngỡ như mình ở chốn cung tiên.

Dịch thơ:

Ráng đỏ ngầm tan, lớp sóng dồi,
Thuyền chài lố nhố bóng chiều soi.
Tầng mây đốm sáng nước tuôn xuống,
Cửa bể lòe xanh núi mọc trồi.
Trời tạnh, rồng về hang đá tối,
Gió chiều, cá nổi ngọn triều sôi.
Mông mênh chèo, chiếc thuyền lan ngắm,
Thấp thoáng cung trăng lẩn bóng người.

(HOÀNG VIỆT THI TUYỂN trích dịch)

Sóng lay bóng nắng long lanh,
Thuyền chài muôn chiếc phơi trong ráng chiều.
Trắng phau nước kéo mặt trời,
Núi xanh vươn mãi tới nơi bể cùng.
Rồng về cửa động mù bưng,
Kình phun đầu sóng, gió tung chiều tà.
Thuyền mộc lan cưỡi sóng xa,
Chốn Bồng Lai ngỡ như là đây chăng?

                        (VŨ BÌNH LỤC dịch)

Cửa biển Thần Phù, còn có tên là Thần Đầu, hay là Thần Đầu cảng khẩu. Đây là một trong những cửa biển nổi tiếng ở nước ta từ rất xa xưa. Thần Phù là cửa bể giáp ranh giữa Thanh Hóa và Ninh Bình. Ở đời Trần, cửa biển này có tên là Thiên Phù, thuộc xã Thiết Giáp, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình ngày nay. Ước đoán, đây là bài thơ Nguyễn Trung Ngạn viết khi ông làm An phủ sứ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An.

Hai câu đầu tả khái quát về của biển Thần Phù, ở thời điểm trời chiều với “Sóng lay bóng nắng lung linh và thuyền chài muôn chiếc phơi trong ráng chiều”. Một buổi chiều ở cửa biển thật đẹp. Toàn cảnh hiện lên như một bức tranh sơn dầu rất sinh động. Nắng chiều vàng nhạt chiếu xuống mặt biển, muôn đợt sóng nhấp nhô như thể đang lay động sóng sánh lung linh. Và nhiều lắm (vô hạn) những thuyền chài li ti đang nhấp nhô bập bềnh trên sóng, như thể những con chim âu nhỏ xíu, cũng lung linh trong ráng chiều. Lại thêm:

Một ngọn nước trắng xóa từ lưng trời đổ xuống,
Những ngọn núi xanh xanh kéo ra đến cửa bể dường như không còn màu xanh nữa.

(Nhất thủy bạch tòng thiên thượng lạc / Quần sơn thanh đáo hải môn không).

Đó là hai câu thơ tả thực, tuyệt hảo. Lý Bạch đời Đường bên Tàu có câu thơ tả thác nước hùng vĩ, như sông Ngân Hà đổ từ trời xuống, rất hay. Thơ Nguyễn Trung Ngạn cũng có cái hình ảnh ấy, nhưng mà khác về cách phô diễn. “Nhất thủy bạch tòng thiên thượng lạc” kia! Nghĩa là dòng nước trắng đã chủ động kéo mặt trời xuống thấp. Thế là thiên nhiên đã được phả hồn, đã được nghệ thuật khoa trương thần thánh hóa, thật kỳ vĩ. Chữ “Tòng” (kéo theo) là động từ biểu thị sự mạnh mẽ. Một dòng nước trắng kéo mặt trời xuống thấp. Câu thơ như vậy đã được động từ hóa, trở nên sống động lạ thường. Câu sau tả núi. Không phải một ngọn trơ vơ, mà là một dãy núi (Quần sơn) dắt tay nhau mà lũ lượt vươn mãi tới tận chân trời. Thật là một thiên nhiên sơn thủy tráng lệ, huy hoàng.

Hai câu 5 và 6 tiếp tục tả sóng. Những con sóng trắng như muôn con rồng cuốn, đang vui vẻ nối đuôi nhau trườn vào cửa động, trong làn sương chiều lãng đãng như làn mây loãng. Sóng trắng lại như những đàn cá kình phun mưa nối nhau theo gió bơi mãi ra biển Đông, nhìn mãi không chán mắt. Tả một cửa biển hùng vĩ và tráng lệ như thế, mà vẫn không thấy cái rợn ngợp, kinh hãi.

Thuyền mộc lan một mình ta thử sóng,
Ngỡ đang ngự chốn Lạn Ngân cung.

(Độc phiếm lan châu quan hạo đãng/ Hốt nghi thân thượng Lạn Ngân cung).

Đấy là hai câu kết thúc bài thơ thất ngôn bát cú, tạo dựng một sự đối lập giữa biển trời hùng vĩ, với sự nhỏ bé của con người. Sự đối lập này hoàn toàn khác với một số bài thơ của các tác giả khác, chính là ở chỗ tâm trạng nhân vật chủ thể trữ tình. Ví như thơ Đỗ Phủ đời Đường, tả cảnh thi nhân lưu lạc tha hương, tuổi cao nhiều bệnh, đứng trước dòng thác đổ xuống từ trời, sóng tung muôn lớp như bạch mã đang phi lên trời, đối lập với cái nhỏ bé đáng thương của con người trước thiên nhiên hùng vĩ, buồn vô hạn. Thơ Phạm Ngộ cũng như một số thi sĩ khác trong thơ đời Trần, cũng có nhiều bài tâm sự mang mang như thế. Thơ Nguyễn Du “Buồn trông cửa bể chiều hôm/ Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa”… cũng là nằm trong cái phạm trù mỹ cảm ấy. Nhưng Nguyễn Trung Ngạn trước cửa bể Thần Phù, sau này thêm Cao Chu Thần, trước Hoành Sơn nhìn ra biển lớn, trong tâm cảnh khác, đã tạo ra một sự đối lập đầy khí phách.

Cưỡi thuyền gỗ mộc lan một mình ta thử sóng,
Ngỡ như đang ngự chốn Lạn Ngân cung!

Thế nghĩa là con người có thể làm chủ thiên nhiên, sẵn sàng đối diện với thiên nhiên, có thể chinh phục những con sóng lớn kia, để mà cùng ngự chơi với thiên nhiên kỳ thú, như thể đang ngự chơi ở “chốn Bồng Lai tiên cảnh”…

Bài thơ “Đỗ thuyền ở cửa bể Thần Đầu” (Thần Phù) của Nguyễn Trung Ngạn quả là một bài thơ đặc sắc, chẳng thua kém gì bài thơ của Nguyễn Trãi ở đời Hậu Lê về nghệ thuật thơ, cũng viết về chính cái cửa biển này, đó chính là bài thơ “Thần Phù hải khẩu”.

Hà Nội 10/2012

Vũ Bình Lục

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).