Thần đồng - Huyền thoại và sự thật!

Chỉ dùng “thần đồng” cho trẻ em dưới 12 tuổi có năng lực đột xuất, hiếm hoi. Là hiện tượng có thật nhưng lạ nên chung quanh “thần đồng” thường được bao phủ bởi những huyền thoại, giai thoại thật giả lẫn lộn được thêu dệt với nhiều tâm ý, thiện ý và cả tà ý... Đây là vấn đề khoa học được quan tâm nhưng vẫn còn nhiều điểm chưa có giải thích thỏa đáng.

Có người dùng hai chữ “thần đồng” để viết về nhà thơ Trần Đăng Khoa ở ngày hôm nay là không đúng bởi chữ “đồng” nghĩa là trẻ con (nhi đồng, mục đồng). Thế nên chỉ dùng “thần đồng” cho trẻ em dưới 12 tuổi có năng lực đột xuất, hiếm hoi. Là hiện tượng có thật nhưng lạ nên chung quanh “thần đồng” thường được bao phủ bởi những huyền thoại, giai thoại thật giả lẫn lộn được thêu dệt với nhiều tâm ý, thiện ý và cả tà ý... Đây là vấn đề khoa học được quan tâm nhưng vẫn còn nhiều điểm chưa có giải thích thỏa đáng.

“Thần đồng”, trước hết là những đứa trẻ bằng xương bằng thịt nhưng sớm thể hiện tài năng thiên phú hơn người. Như Nguyễn Hiền (1234-1256) sinh tại làng Dương A, huyện Thượng Hiền, phủ Thiên Trường (nay là thôn Dương A, xã Nam Thắng, Nam Trực, Nam Định). 13 tuổi đỗ trạng nguyên (tháng 2 năm Thiên Ứng Chính Bình 16 tức 1247 thời vua Trần Thái Tông), là người trẻ nhất đỗ cao trong lịch sử khoa cử Việt Nam. Vì còn “trẻ con” nên vua cho về quê 3 năm tu dưỡng ứng xử thêm rồi mới vời ra làm quan. Về sau làm quan đến chức Thượng thư bộ Công, đi sứ nhà Nguyên vài lần. 

Đến nay đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Hiền vẫn còn ở quê với nhiều bài vị, sắc phong, câu đối, đại tự khen ngợi tài năng, như: “Thập nhị tuế khôi khai lưỡng quốc/ Vạn niên thiên tuế lập tam tài” (Mười hai tuổi khai khoa hai nước/ Nghìn năm ghi mãi chữ tam tài). 

Giai thoại kể một lần viên sứ Trung Hoa đưa ra một con ốc xoắn nhờ xâu qua ruột một sợi chỉ. Ai cũng chịu. Vua bèn vời trạng nguyên trẻ Nguyễn Hiền. Viên quan đi mời về quê trạng, gặp ngay một đám trẻ trâu liền buông một câu thăm dò: “Tự là chữ, cắt giằng đầu, chữ tử là con, con nhà ai đấy”. Một cậu bé nghe được, buông một câu: “Vu là chưng, bỏ ngang lưng, chữ đinh là đứa, đứa hỏi ta chi”. Thâm ý ở vế ra nhắm vào chữ “tự” có hai bộ phận, bỏ “cái giằng xay” ở trên thì còn chữ “tử”, qua đó gửi cái ý người trên hỏi kẻ dưới. Trạng Hiền cũng đối lại bằng cách “chiết tự” chữ Hán: chữ “vu” là chưng có hai nét ngang và một nét móc, bỏ nét ngang ở giữa thành chữ “đinh”, nghĩa là đứa, cũng gửi vào đó cái ý bề trên của người đối...

Sứ giả chột dạ xuống ngựa, truyền ý vua vời trạng về kinh. Trạng không chịu với ý trách trước đó vua cho trạng kém lễ nên buộc về, đến bây giờ vua vời trạng cũng không đúng lễ (lẽ ra phải đón rước hẳn hoi). Biết nội dung câu chuyện, chờ viên quan lên ngựa, Hiền mách đám trẻ hát: “Tích tịch tình tang/ Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng/ Bên thì lấy giấy mà bưng/ Bên thì bôi mỡ kiến mừng kiến sang”. Nghe thấy (lời mách) viên quan mừng như vớ được của!

Lần khác sứ thần đem một bài thơ ngụ ngôn sang thử tài: “Lưỡng nhật bình đầu nhật/ Tứ sơn điên đảo sơn/ Lưỡng vương tranh nhất quốc/ Tứ khẩu tung hoành gian” (Hai mặt trời bằng đầu/ Bốn trái núi điên đảo/ Hai vua tranh nhau một nước/ Bốn miệng ở trong khoảng dọc ngang). Vua lại phải vời Trạng. Trạng giải thích thật đơn giản: Đó là chữ  “Điền” nghĩa là ruộng có hai chữ “Nhật” cạnh nhau, bốn chữ “Sơn” xoay ngược xuôi, hai chữ “Vương” xếp chồng lên nhau, bốn chữ “Khẩu” xếp ngang dọc cạnh nhau!

Đã là giai thoại thì có thể là thật có thể là không. Các giai thoại trên cho thấy chỉ là các chuyện dân gian thêu dệt nên chứ không thật, vì nội dung đơn giản với mục đích giáo dục trẻ em qua những cách chơi chữ ngộ nghĩnh.

Lê Quý Đôn (1726 - 1784) làm quan thời Lê Trung hưng được mệnh danh là “nhà bác học lớn của Việt Nam trong thời phong kiến”, để lại hàng trăm quyển sách giá trị. Là người ham học, thông minh, trí nhớ tốt, người đương thời coi là “thần đồng”. Lên 5 tuổi đã đọc nhiều bài trong Kinh Thi, 12 tuổi đã học “khắp kinh, truyện, các sử, các sách của bách gia chư tử”. 

Giai thoại kể khi 5, 6 tuổi đang tắm dưới kênh, có khách hỏi thăm nhà, cậu bé Phương (tên thời nhỏ) bèn nhảy lên đường dạng chân giang tay hỏi chữ này chữ gì, nói đúng thì chỉ. Khách nói chữ “Đại”. Cậu bé cười, sai rồi, là chữ “Thái” (chữ “thái” là chữ “đại” thêm “dấu chấm” ở dưới!!!). Khách tìm đến nhà nói chuyện với bố (Tiến sĩ Lê Phú Thứ). Người bố bèn cho là con vô lễ, biếng học, rắn đầu khó bảo. Phải làm bài thơ với đề “Rắn đầu biếng học” để chuộc lỗi. 

Khu lăng mộ Lê Quý Đôn.
Khu lăng mộ Lê Quý Đôn.

Cậu bé Phương ứng khẩu đọc luôn: “Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà/ Rắn đầu biếng học lẽ không tha/ Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ/ Nay thét mai gầm rát cổ cha/ Ráo mép chỉ quen tuồng lếu láo/ Lằn lưng cam chịu vết roi da/ Từ nay Trâu Lỗ xin siêng học/ Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia”. Cái đặc sắc là câu nào cũng có “rắn”. Ai cũng phục là tài!

Cũng dễ thấy các giai thoại này do dân gian “sáng tác” ra!

Trên thế giới cũng rất nhiều “thần đồng”. Xin nói về W. A. Mozart (1756 -1791) là nhà soạn nhạc thiên tài người Áo, có nhiều ảnh hưởng nhất trong thể loại nhạc cổ điển châu Âu, tác phẩm là đỉnh cao trong các thể loại nhạc piano, nhạc thính phòng, nhạc giao hưởng, opera. Lúc 5 tuổi đã sáng tác những bản nhạc đầu tiên, 8 tuổi bắt đầu viết giao hưởng…

Thần đồng Mozart!
Thần đồng Mozart!

Lý giải như thế nào về những hiện tượng này? Có rất nhiều “thuyết” nhưng đều xoay quanh các phạm vi: Tư chất thiên phú; Truyền thống gia đình; Tiền kiếp (luân hồi).

Thuyết địa linh cho rằng vùng đất “thần đồng” sinh ra là vùng đất tốt, có từ trường (phong thủy) ảnh hưởng tích cực tới khí chất con người. (Quả thật, trong thực tế có hiện tượng “văn chương nết đất”, như làng Mộ Trạch - Hải Dương, làng Hành Thiện - Nam Định...). Đứa trẻ sinh ra lại đúng với thời khắc từ trường trái đất/mặt trăng/ mặt đất kết nối giao hòa. Về điểm này khoa học sinh lý người khẳng định từ trường trái đất có sự chi phối nhất định tới “thần kinh” đứa trẻ vừa sinh! 

Thuyết được ủng hộ nhiều nhất là truyền thống giáo dục gia đình sớm ảnh hưởng đến trẻ. Vẫn có nhiều thuyết mang tính thần bí hư ảo như thuyết “thai giáo” cho rằng khi người mẹ mang thai đã hội tụ được nhiều điểm ưu trội thuận lợi cho đứa trẻ sau này. Phương Đông có khái niệm “động phòng” gần gũi với thuyết này. Tương truyền bà mẹ Nguyễn Bỉnh Khiêm giỏi lý số đã chọn được giờ “động phòng” để con sau này làm vua nhưng vì người chồng vội vã mà chỉ sinh ra “thần” (tức Nguyễn Bỉnh Khiêm)!?

Giáo dục học hiện đại khẳng định nhân cách trẻ đã tương đối ổn định khi 5,6 tuổi nên giáo dục gia đình mang tính quyết định tương lai và phẩm hạnh con cái. Như trường hợp Mozart thì chẳng có gì huyền bí cả. Cha đẻ là nhà soạn nhạc kiêm giáo viên nhiều kinh nghiệm, là nhạc công chơi trong đoàn nhạc Giám mục Công giáo. Mozart sinh ra đã tắm mình trong bầu không khí âm nhạc. 

Người chị gái Mozart kể lại “thần đồng” thường dành nhiều giờ liền trên phím đàn, lựa chọn các quãng 3 mà cậu ấn tượng sâu sắc nhất... Lên 4, cha bắt đầu dạy một vài bản nhạc đơn giản... Với sự mềm mại và chính xác tuyệt vời, cậu chơi đàn không một chút lỗi... 

Chưa hết, suốt thời niên thiếu, Mozart cùng gia đình đã thực hiện nhiều chuyến đi khắp châu Âu biểu diễn ở nhiều nơi, trong không gian cung đình, giữa đám đông công chúng... Những cơ hội ấy như là giọt mưa, như là ánh sáng tưới bón cho cây nghệ sĩ Mozart lớn lên rất nhanh để trở thành thiên tài! Hay Lê Quý Đôn cũng là “con nhà nòi”...

Nhưng thuyết về “tiền kiếp” thì thật khó cắt nghĩa. Về cơ bản, thuyết này cho rằng “thần đồng” là do thiên tài từ kiếp trước “đầu thai”! Giáo lý nhà Phật vẫn khuyên con người ta ăn ở tử tế để “luân hồi” được làm người như vậy. Câu chuyện sau tiêu biểu cho quan niệm này.

Đến nay khoa học vẫn chưa giải thích được hiện tượng “hóa thân” của các đời Đạt Lai Lạt Ma (Tây Tạng). Sau khi truyền cho các đệ tử những lời huấn thị giáo lý cuối cùng và dặn dò việc tái sinh của mình, vị Đạt Lai đầu tiên là Gedun Truppa viên tịch (1475). Suốt 2 năm sau đó, các đệ tử liên tục tìm và đã xác định được hóa thân tái sinh của ngài. Khi vừa biết nói, cậu bé này đã nói với cha mẹ rằng mình là Đạt Lai (?). Các đệ tử tìm đến và hỏi cậu nhiều câu hỏi về tiền kiếp, đứa bé trả lời thỏa mãn. Những di vật của đại sư Gedun Truppa cố tình đặt lẫn lộn với nhiều đồ vật khác được đưa ra. Cậu nhặt ra vài thứ và nói: “Đây là những thứ tôi thường dùng ngày trước (!)”. Cuối cùng người ta đưa bài kệ và yêu cầu giải thích. Cậu nói chẳng khác gì những lời “tiền kiếp” mình đã nói! Cậu trở thành Đạt Lai Lạt Ma thứ 2… Cứ thế, đến nay là đời thứ 14.

Ứng xử với “thần đồng” thế nào cho đúng? Triết học nhân học hiện đại đáp: Như cây xanh vậy, chăm bón bằng tình yêu thương khoa học để trẻ phát triển tự nhiên! Chỉ nên hy vọng, không nên kỳ vọng!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).