Tây Bắc - nơi thơ nhạc cất cánh

Địa danh Tây Bắc hùng vĩ và trữ tình đã mời gọi các tài năng cho ra đời nhiều tác phẩm lớn, chỉ tính riêng văn xuôi đã thấy Tô Hoài có “Truyện Tây Bắc” đậm đà, Nguyễn Tuân có tùy bút “Sông Đà” nổi tiếng, Nguyễn Khải có tập truyện “Mùa lạc” đặc sắc…

Mỹ học quan niệm có một vùng thẩm mỹ quen thuộc trong tư duy sáng tạo nghệ thuật, không chỉ là đối tượng miêu tả, nó còn khơi nguồn cảm hứng của nghệ sĩ lại vừa khơi nguồn đồng cảm, tri âm của người tiếp nhận. Địa danh Tây Bắc hùng vĩ và trữ tình đã mời gọi các tài năng cho ra đời nhiều tác phẩm lớn, chỉ tính riêng văn xuôi đã thấy Tô Hoài có “Truyện Tây Bắc” đậm đà, Nguyễn Tuân có tùy bút “Sông Đà” nổi tiếng, Nguyễn Khải có tập truyện “Mùa lạc” đặc sắc…

Tây Bắc - mảnh đất thiêng liêng phía Tây Tổ quốc được kiến tạo bởi vùng địa lý cổ, bạt ngàn cánh rừng nguyên sinh, giàu tài nguyên khoáng sản, nơi có 23 đồng bào dân tộc anh em sinh sống cùng những phong tục văn hóa đặc sắc! Tây Bắc lịch sử gắn liền với Chiến dịch Tây Bắc (1952) làm tiền đề góp phần làm nên “Điện Biên chấn động địa cầu” (1954)!

image001.jpg -0
Thơ mộng Tây Bắc.

Nhưng hình như miền đất ngút ngàn xa, bồng bềnh sương và miên man màu xanh của rừng núi đầy chất thơ ấy có duyên hơn cả với thơ và nhạc… Nhà thơ Chế Lan Viên nói thay nhiều tâm trạng trong lời đề từ “Tiếng hát con tàu” giàu chất suy tưởng trí tuệ: “Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát/ Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu”. Được gợi cảm hứng từ sự kiện những năm 1958-1960, đồng bào ta lên Tây Bắc xây dựng vùng kinh tế mới, vượt lên trên hình thức câu chữ, bài thơ vươn tới tầm khái quát lịch sử, là lời tri ân, lời ngày mai vẫy gọi: “Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng/… Nay dạt dào đã chín trái đầu xuân”.

Tây Bắc là lịch sử anh hùng gắn liền với bước trường chinh người lính đánh Pháp. Nơi ấy, năm 1947 đã từng có “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc/ Quân xanh màu lá dữ oai hùm” trong một “Tây Tiến” dồi dào hiện thực khắc nghiệt nhưng cũng đầy chất lãng mạn bi tráng của Quang Dũng. Phẩm chất họa sĩ giúp những người lính mà phần lớn trong số họ là thanh niên Hà Nội tài hoa và hào hoa có cái nhìn đầy chất tạo hình: “Dốc lên khúc khủy dốc thăm thẳm/ Heo hút cồn mây súng ngửi trời…”.

Phẩm chất thi sĩ ở những chàng lính trẻ phát hiện ra những nét nhạc hồn thơ bay bổng: “Khèn lên man điệu nàng e ấp/ Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”; ý thức về phong tục văn hóa đưa ra cái nhìn lạ, linh thiêng, huyền bí mà nên thơ, với “thác gầm thét”, “cọp trêu người”, “mùa em thơm nếp xôi”... Cũng Tây Bắc, với Chiến dịch Điện Biên: “Năm mươi sáu ngày đêm/ Khoét núi ngủ hầm mưa dầm cơm vắt/ Máu trộn bùn non” (Tố Hữu) quân và dân ta đã kết vòng hoa chiến công lịch sử đẹp nhất kính dâng Tổ quốc và Bác Hồ kính yêu!

Tây Bắc - vùng đất của niềm tự hào, của hòa bình, thanh bình yên ả: “Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam/ Hoa mơ lại trắng vườn cam lại vàng” (Tố Hữu). Tây Bắc có màu trắng hoa ban, hoa mơ và bạt ngàn sắc màu của muôn ngàn loài hoa, có âm thanh của tiếng suối và tiếng chim, có hình ảnh của núi cao và vực sâu, có hương vị nồng nàn của rừng xanh tự ngàn năm...

Tự thân Tây Bắc đã là thơ là nhạc. Nhạc chắp cánh cho thơ, thơ ngân lên từng nốt nhạc để tạo ra một tác phẩm nghệ thuật hài hòa khó gọi riêng là thi phẩm hay nhạc phẩm. Đó là trường hợp “Tình ca Tây Bắc” thơ Cầm Giang nhạc Bùi Đức Hạnh: “Rừng rừng hoa với chim ca vui tưng bừng/ Suối nước trong xanh soi bóng em và bóng anh/ Bên nhau cùng sống vui êm đềm cùng núi rừng/ Đất nước mai ngày bừng sáng lên bao mùa xuân”.

Người nhạc sĩ viết bài hát đó khi còn rất trẻ, mới chỉ biết một ít nhạc lý nhưng bù lại, rất yêu và say Tây Bắc. Thì ra có một quy luật: nghệ thuật trước hết ở chỗ yêu, yêu thật sự hết mình sẽ là tiền đề vững vàng nhất cho sự ra đời của một tác phẩm đích thực.

Tây Bắc cảm ơn người nghệ sĩ đã thơ hóa và nhạc hóa hình ảnh, âm thanh thành nghệ thuật sống mãi với thời gian: “Rừng cây xanh lá muôn đóa hoa mai mừng đón xuân về/… Nghe trong tiếng rừng nhịp sáo ai đưa khúc ca hòa vang”. Lời bình về bức tranh đẹp chỉ như là những đường viền khung tranh, có thể làm đẹp thêm chứ không thể nào đi vào từng chi tiết. Với những câu thơ trên là như vậy, đơn giản vì nó quá hay, quá hồn nhiên, trong sáng, vui tươi. Như một thế giới của tiên, người trần tục không thể và cũng không nên có mặt vậy!

image002.jpg -0
Bồng bềnh biển mây Tây Bắc.

Một xứ sở tinh khiết nguyên sơ thì con người cũng thật trong sáng, cố nhiên. Một người trai vệ quốc đi đuổi giặc Pháp, đã có vợ, nhớ vợ mà xin cấp trên về nhà và hứa: “Ngày kia tôi sẽ đến/ Lại cầm súng được ngay/ Tôi càng bắn trúng Tây/ Vì tay có hơi vợ” (Cầm Vĩnh Ui - “Nhớ vợ”). Mới chỉ là lời của khẩu ngữ nhưng đã rất thơ nhờ chân thật cái tình, hồn nhiên, trong sáng đến đáy. Hồn người, tình người Tây Bắc đã hòa lẫn chung riêng, rất mộc mạc, thật thà: “Nếu có được trên tặng/ Cho một cái bằng khen/ Tôi sẽ dọc đôi liền/ Gửi cho vợ một nửa”.

Cùng với bài “Nhớ vợ” này, có một bài “Núi Mường Hung - Dòng sông Mã” của Cầm Giang xứng đáng nằm trong số những bài thơ hay nhất thế kỷ XX. Bài trước là nỗi nhớ, lời nhớ, bài sau là nỗi yêu, lời yêu và lời thề hẹn: “Anh là núi Mường Hung/ Em là dòng sông Mã/… Chiều bóng anh che sông/ Sớm mặt em lóng lánh”. Một nét sinh hoạt, xưng hô của người Tây Bắc là luôn có xu hướng nhập thân vào tự nhiên, lấy tự nhiên là thước đo, là chuẩn mực thẩm mỹ cũng như chuẩn mực đời sống.

Khi nói: “Anh là rừng thẳm/ Em là suối sâu” chưa mới, đến lời tự nguyện: “Cây rừng anh làm cầu/ Bắc ngang lên dòng suối” đã có nét riêng. Phải đợi đến cuối bài nhân vật trữ tình hóa thân vào sông núi thì cái tứ con người nhập thân vào thiên nhiên để bảo vệ quê hương được nâng lên, tỏa sáng: “Rừng anh chặn lại bão giông/ Để anh lớn mãi thành núi Mường Hung/ Em ngoan chảy thành dòng sông Mã”. “Anh” và “em” thực sự hạnh phúc nhất thế gian cùng viết nên một bài thơ tình sống mãi cùng sông núi!

Bản thân phong tục đã đậm chất thơ vì là những mã văn hóa chứa đựng các ký hiệu đời sống. Giống như phong tục vậy, thơ luôn là một quá trình tạo mã, tiếp nhận phê bình thơ là quá trình giải mã. Thơ nhạc về Tây Bắc là hành trình tạo mã và giải mã phong tục theo điệu riêng của tâm hồn. Bài hát “Thơ tình của núi” (An Thuyên) khám phá một phong tục đậm chất nghệ sĩ: “Bản em lưng chừng núi lưng chừng đèo/ Từng bậc thang lên xuống như cung đàn, ngân dài/… Cùng lặng nghe em hát/ Những yêu thương cuộc đời”. Lời hát “Từng bậc thang lên xuống như cung đàn, ngân dài” là chìa khóa giải mã: con đường em xuống núi như một cây đàn, từng bậc thang là một “cung đàn”. Thì ra không chỉ em hát mà cả đất trời Tây Bắc đang xôn xao hát về “những yêu thương cuộc đời”…

Nhạc sĩ Bảo Chung trong bài hát “Gặp nhau giữa rừng mơ” tìm hiểu phong tục chợ: “Con chim gì mà hót vui/ Vang cả cánh rừng/ Vui chân, vui chân, ta cùng xuống chợ/ Bướm trắng bay quanh bên những rừng mơ”. Lời hát đẹp, trong sáng, tươi vui diễn tả không chỉ là con người xuống chợ mà còn là những tâm trạng đắm say, nồng nàn.

Tây Bắc không chỉ có một chợ tình Khau Vai bản sắc, mà hầu như bất cứ vùng nào chợ cũng là một nét phong tục đẹp, nơi bán mua chỉ là cái cớ, thực ra là để gặp gỡ, hẹn hò,… Nếu vùng đó có người Thái thì chợ dứt khoát phải có “mặt hàng” khăn piêu. Cũng như người Kinh, chiếc khăn là tình yêu, tình người “Khăn thương nhớ ai…”, khi đã trao khăn tức là trao gửi tình yêu.

Bài hát “Chiếc khăn piêu” của Doãn Nho đã nói đúng về bản chất phong tục này: “Chiếc khăn piêu thêu chỉ hồng theo gió cuốn bay về đây vương trên cây…/ Á ơi có phải thắm thiết duyên nhau/ Chiếc khăn đây làm mối nối duyên nhau, thời tôi chờ…”. Bài hát là nỗi lòng khắc khoải của bao chàng trai Thái. Một tác phẩm trở thành giá trị văn hóa khi nói lên được mẫu số chung của văn hóa cộng đồng, thì bài hát này được như vậy!

Tây Bắc đã trở thành điểm tựa cảm xúc để bao hình tượng thẩm mỹ cất cánh bay. Nhà thơ Vũ Quần Phương nói thay cho nhiều người niềm tự hào trước vẻ đẹp đất nước mà tâm hồn như muốn bay lên, bay cao bay xa: “Phút kỳ diệu bay lên ta ngây nhìn Tổ quốc/… Ta muốn hát vang lên trên đỉnh hồn đất nước/ Trên chót đỉnh ba ngàn ta lại muốn bay xa” (Phanxipăng ta lên đến đỉnh).

“Qua miền Tây Bắc” (tên một bài hát) chứng minh một quy luật sáng tạo: người nghệ sĩ phải đi tìm những vùng đất giàu trữ lượng thẩm mỹ vừa của đời sống chung vừa của riêng mình để gieo hạt giống hình tượng và chăm tưới bằng nguồn suối cảm xúc trong trẻo, nồng nàn mới có thể gặt hái những trái tác phẩm giàu có ý nghĩa!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân đã dành thời gian hơn một năm để biên soạn cuốn sách chuyên khảo công phu có tên gọi “Các nhà văn nữ đoạt giải Nobel sống và viết”. Tác phẩm có dung lượng 600 trang với nhiều thông tin bổ ích này vừa được Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành.