Tập sách mỏng tưởng chừng như rất nhẹ

Ngay trang đầu tập thơ “Thơ và mộng”, nhà thơ Chử Văn Long đã dùng hai câu thơ “Tập sách mỏng tưởng chừng như rất nhẹ/ Trái tim anh trĩu nặng đồng cân” của Nadim Hikmek làm lời đề từ. Tôi đọc thấy nội dung khá phù hợp nên cũng xin mượn lời của nhà thơ lớn người Thổ Nhĩ Kỳ này làm tên của bài viết.

Thoạt đầu nhìn bìa tập thơ, tôi có cảm giác người vẽ là một họa sĩ nghiệp dư, bên trong chỉ có 42 trang với 25 bài thơ, nhưng lại được tuyển chọn trong 53 năm cầm bút (1967 – 2020) của tác giả; vì thế, tôi không thể không đọc. Hơn nửa thế kỷ sáng tác thi ca, từng xuất bản tới 10 tập thơ, từng được những giải thưởng có tiếng tăm như giải nhì cuộc thi thơ báo Văn nghệ, giải nhì thơ thiếu nhi của tổ chức UNICEF, ba lần giải thưởng chính thức thơ Hà Nội, nhưng ông chỉ chọn được 25 bài trong tuyển tập, kể cũng là sự khiêm nhường, tự khắt khe với mình. Nhưng tôi đọc cả tập thì lại thấy ông có lý: 25 bài thơ in trong tập nó phản ánh rất đầy đủ phong cách, bút lực, bút pháp thơ ông.

fb_img_1630916032159.jpg -0
Nhà thơ Chử Văn Long.

Chử Văn Long sinh năm 1942 tại xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Thuở nhỏ ông học phổ thông ở quê rồi đi học trung học cơ điện. Tốt nghiệp, ông xung phong đi xây dựng vùng kinh tế mới Quảng Ninh. Gần chục năm sau ông xin về Xí nghiệp Gạch Văn Điển, đây là cơ sở sản xuất gạch theo phương thức công nghiệp đầu tiên ở miền Bắc khi ấy, phụ trách tất cả những khâu liên quan đến máy móc.

Xuất hiện cùng các nhà thơ chống Mỹ, lứa đầu, nhưng Chử Văn Long không viết những bài thơ mang tính sử thi như họ; ông chọn một góc riêng phù hợp với mình. Với lăng kính của một người công nhân trung thực, ông soi rọi vào nhiều góc cạnh của cuộc sống, phát hiện ra những khả năng và cả những góc khuất trong tâm hồn con người mà viết thành thi phẩm.

Đặc điểm dễ nhìn thấy đầu tiên trong thơ Chử Văn Long ấy là mạnh về tứ. Trong văn xuôi có cốt truyện. Cốt truyện vững thì mới có sức chuyển tải nội dung mạch lạc, khúc chiết. Cái tứ trong thơ cũng có công dụng như vậy. Nhân đây tôi xin mạo muội thưa rằng: hiện nay người làm thơ ở xứ ta rất nhiều. Ngoài các thành viên thơ của các hội từ trung ương xuống các địa phương, còn có hàng ngàn, thậm chí hàng vạn câu lạc bộ thơ. Nhưng phần nhiều thơ của họ không lập được tứ. Chính vì thế thơ của người này cứ lẫn với thơ của người kia, rất nhạt và xáo.

Với 25 bài trong tập “Thơ và mộng” hầu như bài nào cũng có tứ. Có những cái tứ vững, mang tính phát hiện làm cơ sở cho những câu thơ hay, mới mẻ xuất hiện. Chẳng hạn bài “Xuân về trên mộ hai người lính”, tứ thơ nói về nơi mai táng thi hài một người lính bên này và một người lính bên kia chiến tuyến. Khi còn sống, hẳn có lúc họ hằn thù nhau, chĩa súng vào nhau, nhưng khi nằm dưới ba tấc đất rồi, chiến tranh đã qua lâu rồi chẳng nhẽ hai vong hồn máu đỏ da vàng kia vẫn xử sự với nhau như thế?

Một tứ thơ hay làm nền sáng tạo nên một bài thơ hay: “Mùa xuân về trên mộ hai người lính/ Một phía bên kia, một phía bên này/ Những ngọn cỏ gà bò lan chầm chậm/ Như những bàn tay tìm gặp bàn tay/ Dường như tất cả đã xóa đi mọi điều thù hận/ Ai nỡ phân chia ranh giới ở nơi này/ Hoa đồng nở bừng lên quanh hai nấm mộ/ Cánh bướm ngây thơ cũng tới vẽ vòng/ Cả tiếng sáo tận bờ tre êm ả/ Ru vọng về giấc ngủ ngàn năm”.

untitled-12.jpg -0
Tập thơ mới của nhà thơ Chử Văn Long.

Vào một ngày, nhà thơ phát hiện, ngôi làng của ông, cái ngôi làng đã làm nên bao điều đáng nhớ, đã nuôi dưỡng tâm hồn thơ của ông bỗng như xa lạ, thế là trong ông hình thành một cái tứ để viết bài thơ “Giữa quê lòng bỗng nhớ quê”: "Giữa quê lòng bỗng nhớ quê/ Nhớ mưa thánh thót, chiều nghe thu vàng/ Nhớ bông súng nở ao làng/ Nở như sao sáng trên làn nước xanh/ Nhớ màu khói tỏa mong manh/ Vấn vương mái rạ mà thành ca dao/ Ai đang xin lửa qua rào/ Có nghe tiếng sáo diều chao lưng trời…”. Quả là Chử Văn Long đã nói hộ rất nhiều người Việt Nam sinh ra từ làng quê nhưng giờ đây do quy hoạch tùy tiện, đô thị hóa tự phát mà thành ra mỗi khi về quê có cảm giác bơ vơ, thậm chí như kẻ lưu vong trên chính ngôi làng của mình.

Những bài thơ thế sự, tác giả thường càng chú trọng đến tứ, đến ý tưởng và giá trị triết lý của nó:… “Nên trăng đẹp, trăng huyền xưa đã chết/ Bởi không người say đắm với mê si” (Trăng đã chết)… “Và ngoài kia thế giới/ Đang lửa bỏng dầu sôi/ Kẻ bới ăn trong rác/ Người mua được cả trời/ Như thế mà nhân loại/ Đều là những con người?”. (Trong phòng họp)… Ở nơi ấy anh nhìn đời rất rõ/ Đời khao khát thương yêu, mong chống lại lọc lừa/ Nhưng bắt đầu từ đâu, cuộn chỉ đời rối rắm/ Trong lòng tay tạo hóa cứ bông đùa…”. (Mơ giấc mùa xuân)… Nhân loại lớn sớm nay xin chào nhé/ Người là số đông của bảy tỷ con người/ Với sức mạnh dời non lấp bể/ Đã thay đổi được gì kiếp sống nhỏ nhoi/ Hay vẫn rạp mình trước miếng cơm manh áo/ Vẫn vòng tay vâng, dạ tôi đòi… (Nhân loại lớn)…

Trong những bài thơ ấy, không ít những câu mang tính phản biện, thậm chí phản biện dữ dội. Nhưng nếu nhà thơ chỉ phản biện cơ chế xã hội, phản biện sự vênh lệch của thế giới mà anh không biết tự phản biện cái lĩnh vực mình đang làm thì còn có chỗ cho chúng ta hoài nghi. Rất may, Chử Văn Long đã không ít lần, không ít đêm trằn trọc nhận ra cái giới sáng tác thi ca của ông cũng đầy những hao khuyết, méo mó, tào lao: …“Chỉ buồn cười có nhà thơ quá tỉnh/ Đi viết ngợi ca Bùi Giáng thơ điên/ Tiếc ông không còn hôm nay để đọc/ Để mỉm cười cảm tạ những huyên thuyên/ Bao cuộc chơi thơ nháo nhào bặm trợn/ Thơ mang giấc mơ hình chiếc thớt với dao phay/ Thơ thèm chồng, cả thơ giao hợp/ Mai mốt còn thèm thơ gì mới nữa đây? Thứ lý luận hỏa mù được phen đắc sách/ Đang tung ra mù mịt khắp thi đàn”… (Thơ và mộng thơ)… “Thơ đã thành trò chơi mua bán/ Không chia sẻ cùng ai, không đau xót vì ai/ Thà xé phăng đi cho chó gặp rác vùi/ Thơ như nắm xương khô/ Thơ nhờ nhờ xác ướp/ Nói như vậy các nhà thơ sẽ nhìn anh căm ghét/ Còn hơn lời khen cách tân, đổi mới không hồn”… (Nghĩ về đất nước buồn vui).

Chử Văn Long có một người vợ tào khang. Họ đã yêu nhau, gắn bó với nhau, sinh con đẻ cái, chung lưng đấu cật để xây dựng một tổ ấm. Trải qua chiến tranh đau thương mất mát hay khi đất nước đã hòa bình nhưng hãy còn đói ăn thiếu mặc, họ vẫn gắn bó với nhau. Cho đến lúc đáng nhẽ người vợ ấy được xả hơi một chút để nhìn ngắm thành quả từ những đứa con thì chị lại ra đi về với cát bụi, để lại cho người chồng biết bao thương tiếc, nhớ nhung: “Ngõ Hoa ngày trước còn em/ Vầng trăng như mộng từng đêm đợi người/ Chiếu hoa em trải ra ngồi/ Dưới giàn thiên lý trăng soi mơ màng”… (Ngõ Hoa).

Một mình lọ mọ “gà trống nuôi con” mãi rồi cũng có một tình yêu mới xuất hiện. Chị là một nhà thơ kém ông tới 20 tuổi, từ quê hương miền Trung nắng gió đến với ông như tìm một người tri âm tri ngộ hơn là trong vai một người vợ. Ông cũng yêu chị, một tình yêu mãn nguyện nhưng cũng không ít những  khắc khoải, âu lo: “Khi em tới muộn màng/ Thời gian thành đắm đuối/ Sớm nay như mùa thu/ lá vàng rơi bối rối…”. (Khi em tới muộn màng)… “Cuối đời sợi chỉ tình yêu/ Thành vàng ròng buộc tay đeo tháng ngày/ Mỗi khi nhìn lại cổ tay/ Bàng hoàng anh nghĩ rồi ngày nào kia/ Anh không còn nữa em về/ Chỉ còn vắng lặng vàng hoe nắng vườn/ Phong lan sân ướp đầy hương/ Hoa không người ngắm để buồn cho cây…”. (Đây sợi vàng ròng)…

Con người là thế. Và có như thế Chử Văn Long mới là một nhà thơ mà tôi yêu quý.

Lê Hoài Nam

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).