Đọc "Chạm nẻo người dưng", tập thơ của Đại Ngàn, NXB Hội Nhà văn, 2017

Tâm thế con người đương đại qua một tập thơ

Khi đọc các tập thơ của Nguyễn Thành Tâm được ký bút danh Đại Ngàn, tôi không khỏi có chút tò mò. Đại Ngàn không phải là một danh từ mà là một tính từ; dùng tính từ làm bút danh xưa nay không nhiều văn nghệ sĩ làm, nhưng khi đọc thơ và tìm hiểu "nguồn cội" của tác giả thì tôi lại thấy chị có lý khi làm như vậy.

Ta tìm ta giữa đại ngàn
Mênh mông nắng gió nhân gian kiếp này

(Chùm thơ hai câu)

Nguyễn Thành Tâm quê ở huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, một huyện đồng bằng, chỉ riêng cái xã Vĩnh Long của chị là có dãy núi bao ba mặt, với những miệt rừng già ngàn tuổi. Thuở ấu thơ chị tắm táp trong cái mưa cái gió của đại ngàn rừng già.

Rừng già, núi cao, suối sâu… đã thành một phần máu thịt của chị. Thuở cắp sách đến trường phổ thông, chị là học sinh chuyên toán ở quê. Hết phổ thông, chị ra Hà Nội học Đại học Bách khoa. Ra trường, vì duyên nợ với toán mà chị trở thành giáo viên toán đến giờ.

Một số bạn trẻ thời nay hay tìm cách giấu cái nguồn gốc thôn quê của mình, đánh bóng mạ kền để chứng tỏ mình là người thành thị sang chảnh ngẩng mặt lên với đời, thậm chí còn đặt cho mình một cái tên Tây Tây bên cạnh cái tên Việt từa tựa như một vị Việt kiều nào đó.

Nhưng Nguyễn Thành Tâm không thế. Trong tập thơ, không ít lần chị ví mình như một cánh cò: "Cánh cò nhớ thuở nồng nàn/ Cõng theo tiếng sáo non ngàn thuở xưa/ Cánh cò lặn lội giữa mưa/ Hà Thành chẳng có ai đưa cò về…".

Nói như thế còn bóng bẩy, ẩn ẩn hiện hiện. Nhưng đến cuối bài thì chị nói thẳng ngay ra cái căn nguyên tự ví mình như cánh cò: "Thị thành nhớ nhớ quên quên/ Cò ôm khát vọng một miền gió quê…" (Cánh cò khát vọng).

Không những thế, nhiều lần tác giả tự dặn mình không được quên quê hương xứ sở: "Dô khoan nào/ Sông Mã anh hùng/ Thanh Hóa dấu yêu/ Xin đừng quên nhé/ Dù ta đi xa/ Vạn ngàn dâu bể/ Lưng mẹ còng/ Khắc khoải triền đê/ Dô khoan nào…/ Đừng quên lối về…" (Ai nợ lời thương)

Tôi viết văn xuôi, nhưng những năm gần đây được tặng rất nhiều thơ. Vì quý trọng người viết, ai tặng tôi cũng đọc. Tập thơ "Chạm nẻo người dưng" của Nguyễn Thành Tâm (Đại Ngàn) có những bài, những câu hay cuốn hút tôi: "Tháng năm em về anh vui không/ Lúa chín trĩu bông nhuộm cánh đồng/ Óng vàng như buổi ta hò hẹn/ Ai nép tình ai giữa mưa giông/ Tháng năm em về thăm bến sông/ Còn ai thổi sáo ấm men nồng/ Sắc tím lục bình còn ai tặng/ Trăng còn đỏ mặt chốn mây không?" (Tháng năm em về).

Tôi nghĩ câu thơ như "Trăng còn đỏ mặt chốn mây không?" chắc không chỉ riêng tôi thích!

Có thể nhặt ra một số câu hay trong tập để bạn đọc thưởng thức: "Đốt chi cho cháy chiều tà/ Tro tàn tình tội bao la nỗi buồn"; "Chỉ có ánh nhìn mà như dao cứa/ Nửa đời người vây bủa nửa lời yêu";  "Lời yêu người để trên bờ/ Mà ta đuối sức bơ vơ giữa dòng"; "Cánh cò úp mặt trên đồng/ Để tìm hương cỏ ngày không có người".

Trong tập thơ còn nhiều câu ấn tượng, ám ảnh như thế. Cái hay của thơ Nguyễn Thành Tâm không phải sự ẩn tàng lấp lánh mà nó ở sự bộc trực. Như nhiều phụ nữ làm thơ, tác giả cũng từng gặp những hệ lụy, bị người thân nghi ngại, ghen tuông. Nguyễn Thành Tâm xử sự theo cách làm thơ thổ lộ nỗi niềm. Trạng huống này không thể úp mở được, thôi thì cứ bộc trực nói ra cho nhẹ lòng: "Buông tay ra cho mãi là cách biệt/ Người tình trong thơ chẳng là ai hết/ Chỉ nửa lời thương ai mê mải dệt/ Mảnh chung tình không có giữa nhân gian/ Chỉ ảo vọng thôi nên anh đừng ghen/ Đừng bận lòng những câu thơ em viết" (Đừng ghen).

Có khi Nguyễn Thành Tâm càng bộc trực, thậm chí bộc trực một cách dữ dội: "Này anh, lối cũ cạn thương/ Tránh em ra, để con đường hồi sinh/ Trả em về lại chính mình/ Trái tim phá ngục nguyên trinh thuở nào" (Ngày mồng 8 tháng 3), "Người thân đẩy ta về phía người lạ/ Phía ấy mưa giăng mọi ngả đường/ Ta đông cứng từng tế bào huyết quản/ Tỉnh lại trên vùng ngực người dưng…" (Cuộc hoán vị).

Nhưng có lẽ "Chạm nẻo người dưng" neo đậu được trong lòng người đọc, có tính quán xuyến  toàn bộ tập thơ, ấy là mô tả được cái tâm thế chân xác của con người Việt Nam đương đại, tâm thế của con người sống giữa thời đại ngổn ngang phát triển, rất nhiều cơ hội, nhưng cũng không thiếu những bụi bặm, thách thức, hệ lụy: "Ta ngược lối giữa lo toan cơm gạo/ Trên đường đua bỏng rát những công danh/ Ta giật mình nước mắt chạy vòng quanh/ Vỡ giấc mơ, dịu dàng hương mùa cũ" (Hương mùa cũ).

Phải, sống trong cơn bão lốc của thời kì đầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa, tác giả không thể không bị cuốn vào cái guồng quay của nó, nhưng may cho tác giả vẫn còn lưu giữ cái "hương mùa cũ", ấy là cái bản chất ân tình hiếu nghĩa vốn cỏ được nuôi trồng, bồi đắp từ cái thuở còn sống nơi đại ngàn, như một thứ thuốc miễn dịch, để chị không đánh mất mình.

Cái nhịp sống đương đại ở thị thành gấp gáp đến độ làm cho tình yêu đôi lứa cũng vội vội vàng vàng: "Lời anh hát rất hay/ Sao tim em đau nhói/ Bài thơ tình viết vội/ Tan trong chiều gió bay…" (Bài thơ tình phổ nhạc). Tình yêu thời mở cửa hội nhập tưởng thênh thang, thoáng đãng nhưng thực tế lại chật chội và đầy những ảo tưởng: "Người còn nghe tôi nói không?/ Chữ yêu vụn vỡ đớn đau lòng/ Tôi yêu người nồng trong ảo vọng/ Bởi nhân gian chật đến khôn cùng…" (Ảo vọng).

Và đầy những bất an, bất trắc: "Em muốn gói chiều nay/ Cài lên ngàn mắt lá/ Nhỡ ngày mai xa lạ/ Dắt thu qua bồi hồi" (Mắt lá); "Có gì đâu/ Nhân gian dễ dãi/ Câu yêu đương chưa đọng đã rơi rồi" (Vu vơ). Chật chội, bất an, bất trắc, đương nhiên là sẽ không tránh khỏi nỗi cô đơn, khắc khoải và hoài nghi: "Biết là không đến được/ Biết là mãi không nhau/ Đêm xiết ghì hư ảo/ Mênh mang đến bạc đầu" (Đêm), "Rồi từ bữa ấy dần xa cách/ Ta yên tâm phía ấy lãng quên rồi/ Ta đâu biết chiều tràn trên khóe mắt/ Họ dằn lòng im lặng để ta vui" (Lặng im), "Vòng run/ Rối giữa đôi bờ/ Người quên/ Ta dỗ/ Những ngờ ngợ vương" (Ngợ vương). Nguyễn Thành Tâm mô tả nỗi cô đơn khiến ta rất dễ đồng cảm, nó đánh thức nhân tính trong ta: "Chiều nghiêng/ ở phía hoàng hôn/ Ta chênh chao/ phía đoạn đường vừa qua/ Hình như ta giẫm bóng ta/ Nụ cười đông cứng là là phù vân" (Chiều nghiêng).

Cái câu: "Hình như ta dẫm bóng ta" là một câu thơ thể hiện sự cô đơn đến lạnh người!

Hẳn vì thế mà đôi khi tác giả phải cầu viện đến Cửa Thiền: "Nhân gian ơi cõi tạm chúng sinh/ Tự kiếp nào nợ luân hồi tìm trả/ Nếu vô cớ người làm ta đau quá/ hãy nhân văn hóa giải ở kiếp này" (Kiếp nào ta đã nợ nhau). Và nhân ngày lễ Giáng Sinh thỉnh cầu cả Chúa trong Ki-tô giáo, trách yêu Chúa nữa: "Nụ hồng lặng khép hương/ Treo khô từ dạo ấy/ Chúa muộn màng đến vậy/ Để em mãi thỉnh cầu/ Năm nào em cũng hỏi/ Noel này anh đâu" (Noel). Đa cảm, nhân hậu trong từng câu thơ: "Trên đường đời thương nhé cả cỏ cây/ Bởi bao kiếp luân hồi ta đâu tỏ/ Sỏi đá dưới chân biết đâu nghe ta thở/ Lặng im thương trên mỗi lối ta về " (Kiếp nào ta đã nợ nhau).

Song, cái nơi che chở cuối cùng vẫn là quê hương nguồn cội. Dù rất yêu quê hương, nhưng có lúc đau khổ đến tột cùng, tác giả đã phải thốt lên tự hỏi: Liệu quê hương nguồn cội có còn là nơi nương tựa, cứu rỗi  tâm hồn ta: "Sông còn không bến cũ?/Ta xin phút nương lòng/ Lau sậy còn che được?/ Cho ta òa nhớ mong/ Con cua càng ngày cũ/ Có còn giương mắt trong?/ Cỏ có còn mướt mát?/ Ta gục vào mênh mông!"  (Cho ta phút nương lòng).

Nguyễn Thành Tâm bắt đầu làm thơ từ thời sinh viên. Cuộc sống 20 năm qua cuốn vào bao trách nhiệm nên gần đây chị mới quay lại với thơ.

Không sớm, cũng không quá muộn. Năm nay chị ở tuổi 44, trong vòng hai năm chị cho xuất bản 3 tập: "Tràn trong nỗi nhớ" (2016), "Qua vùng bão nổi" (2017), "Chạm nẻo người dưng" (2017). Trong 3 tập ấy, tôi đánh giá cao "Chạm nẻo người dưng". Chỉ một tập thơ này, chị đã xứng đáng là một tác giả.

Tuy nhiên, cũng giống như nhiều tác giả mới cầm bút, Nguyễn Thành Tâm cũng còn những điều cần khắc phục, ấy là khi chị cần phải viết nhanh cho một sự kiện nóng bỏng tính thời sự hoặc cần thể hiện trách nhiệm công dân trước một hiện tượng có khả năng gây tổn hại tới lợi ích quốc gia… thì chị thường tỏ ra dễ dãi, đôi khi hơi cao giọng mà thiếu đi cái trau chuốt, trầm sâu, thâm hậu cần thiết của thi ca. Tuy vậy, những bài thơ như thế chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tập sách.

Lê Hoài Nam

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).