Ta đã đi như mèo trên phố vắng

Huyền sử của nhiều dân tộc trên thế giới đều cho rằng, thuở xa xưa, con người và muôn loài muông thú vốn sống chan hòa như anh em trong một mái nhà. Sự phát triển ngày càng đi lên của xã hội loài người dần dần mới tạo ra thế lưỡng khả sâu sắc giữa người và vật.

Nhưng cảm thức của con người về các loài vật rõ ràng có sự khác nhau. Có những loài khiến con người phải tránh xa, sợ hãi hoặc đôi khi là căm thù; lại có những loài vô cùng gần gũi, dễ thương, được con người yêu mến, nuôi nấng và chăm sóc. Chúng còn đi vào thi ca, trở thành các “nhân vật trữ tình” đặc biệt, đôi khi được lồng vào đó không ít những ẩn dụ, ngụ ý hay hàm ngôn của người sáng tạo. Một trong những loài vật được dành nhiều sự ưu ái ấy là con mèo.

1. Đối với người Việt, con mèo là vật nuôi gần gũi, thương mến ở trong nhà. Mèo có thể để làm cảnh, nhưng có lẽ công dụng lớn nhất của chúng là bắt chuột. Mèo từ đó đã đi vào các bài ca dao một cách thật tự nhiên, ngộ nghĩnh: “Con mèo mà trèo cây cau/Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà/Chú chuột đi chợ đường xa/Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo”. 

Mèo đi vào thành ngữ tục ngữ với những ẩn dụ tích cực, liên quan đến bắt chuột, chẳng hạn câu “Mèo nhỏ bắt chuột cống” hàm ý chỉ những người tuổi trẻ tài cao, câu “Mèo nhỏ bắt chuột nhỏ” chỉ sự phù hợp trong công việc tùy theo năng lực từng người, câu “Rình như mèo rình chuột” để chỉ sự kiên nhẫn và siêng năng trong công việc. Trong miêu tả phụ nữ, “Ăn nhỏ nhẻ như mèo” là một đánh giá tốt, giống như lời khen về đường ăn nết ở, về sự ý tứ của người phụ nữ trong một bữa cơm. 

Con mèo còn xuất hiện trong những câu chỉ triết lý đời sống, thể hiện kinh nghiệm sống hoặc những quan sát phản ánh hiện thực xã hội. Mèo cũng gắn với những sự phê phán thói hư tật xấu, hoặc đôi khi là những châm biếm mỉa mai trào lộng, chẳng hạn các câu: “Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa; Im ỉm như mèo ăn vụng, Mèo mả gà đồng, Mèo đàng chó điếm. Mèo mù vớ cá rán, Mèo khen mèo dài đuôi”…

2. Con mèo xuất hiện nhiều trong ca từ nhiều bài hát của người Việt. Nhưng lạ ở chỗ, mèo xuất hiện chủ yếu trong các bài hát thiếu nhi chứ ít khi được đi vào các ca khúc trữ tình dành cho người lớn. Điều này đặc biệt đúng với các nhạc sĩ sinh sống và trưởng thành tại miền Bắc. 

Có thể kể đến một loạt các bài hát nổi tiếng về con mèo dành cho thiếu nhi như: “Rửa mặt như mèo” (Nhạc và lời: Hàn Ngọc Bích), Vì sao con mèo rửa mặt (Nhạc và lời: Hoàng Long), “Ai cũng yêu chú mèo” (Nhạc và lời: Kim Hữu), “Chú mèo con” (Nhạc và lời: Nguyễn Đức Toàn), “Gà trống, mèo con và cún con” (Nhạc và lời: Thế Vinh)… 

Trong những bài hát trên, con mèo chủ yếu được khai thác ở khía cạnh ngộ nghĩnh, đáng yêu và khả năng bắt chuột: “Nhà em có con mèo, chú mèo kêu meo meo. Mắt tròn trong như nước, ai cũng yêu chú mèo” (Kim Hữu); Nhà em có con gà trống, mèo con và cún con. Gà trống gáy ò ó o, mèo con luôn rình bắt chuột, cún con chăm canh gác nhà” (Thế Vinh); “Chú mèo con lông trắng tinh mắt tròn xoe và trông rất xinh meo meo. A con mèo nó rất ngoan bắt chuột đôi chân nhanh thoăn thoắt. A con mèo nó rất ngoan, suốt ngày em đùa chơi với mèo mèo” (Nguyễn Đức Toàn). 

Thế nhưng, khi khảo sát các ca khúc có xuất hiện hình ảnh chú mèo của các nhạc sĩ phía Nam, tôi nhận thấy tình hình hơi khác. Con mèo không chỉ xuất hiện trong các bài hát thiếu nhi mà còn xuất hiện cả trong nhiều tình khúc dành cho người lớn. 

Ở đó, mèo đã trở thành một nhân vật trữ tình, làm đẹp thêm cho con người, gắn với những kỷ niệm của một thời đầy yêu thương nay đã trở thành xa vắng: “Hỡi cô gái ngồi xõa tóc bên chú mèo làm bước chân tôi ngủ quên. Khiến tôi muốn mình là cỏ non ướt mềm hiền lành nằm dưới chân son” (Nếu em là người tình – Nhạc và lời: Nguyễn Ngọc Thiện), “Phố có nhớ đôi mèo con năm xưa, vẫn hay nô đùa mỗi ngày và hay hái me cho nhau. Phố có biết câu chuyện yêu vu vơ, như thể con mèo dịu hiền, thường hay cắn đôi tay tôi” (Góc phố dịu dàng – Nhạc và lời: Trần Minh Phi). 

Chú mèo đã đi vào phần lời của các tình khúc một cách tự nhiên, duyên dáng đáng yêu và điều quan trọng nữa là, hai ca khúc điển hình mà chúng tôi vừa nhắc đến đều là những tác phẩm thành công, in dấu khá sâu đậm trong lòng công chúng nghe nhạc. 

Trong khi đó, ngoài Bắc, nếu nhạc sĩ có đưa được mèo vào tình khúc thì cũng chưa thấy xuất hiện những tác phẩm thực sự gây được ấn tượng, chẳng hạn bài “Những ngày ta yêu nhau” của nhạc sĩ Phú Quang rõ ràng chưa bao giờ được xếp vào danh sách những ca khúc tiêu biểu của ông: “Những ngày ta yêu nhau, em nũng nịu trên vai anh. Con mèo hoang đang trốn nỗi buồn dưới vòm trời mùa hè”. 

Lý giải điều này, chúng tôi cho rằng, tính truyền thống và thủ cựu của miền Bắc mạnh hơn nên khoảng cách, ranh giới giữa người và vật nuôi cũng trở nên xa cách hơn. Trong khi miền Nam là vùng đất mới khai phá, lại có nhiều sự tiếp xúc với phương Tây (người phương Tây rất yêu quý vật nuôi, điều này ai cũng đã rõ), thế nên dường như đối với người miền Nam, khoảng cách giữa người và vật nuôi có sự gần gũi hơn, con mèo vì thế đi vào các ca khúc trữ tình một cách dễ dàng và có nhiều thành công hơn.

3. Bên cạnh âm nhạc, mèo đi vào nhiều thi phẩm của người Việt từ thời trung đại tới hiện đại với nhiều biểu hiện phong phú, qua miêu tả mèo mà bộc lộ thế giới nội tâm của con người. Nguyễn Bỉnh Khiêm (thế kỷ XVI) đã hơn một lần nhắc đến mèo trong thơ: “Phơ phơ đầu bạc ông câu cá/Leo lẻo dòng xanh con mắt mèo” (Mùa thu đi chơi thuyền), “Có thuở được thời mèo đuổi chuột/ Đến khi thất thế kiến tha bò” (Vô sự là hơn). 

Nhưng dù sao thơ trung đại nhắc đến mèo vẫn mang nhiều tính ước lệ, có phần mòn sáo. Phải đợi đến thời hiện đại, cụ thể là từ nửa đầu thế kỷ XX trở đi mới xuất hiện nhiều câu thơ hay về chú mèo. 

Trong thơ Đoàn Văn Cừ, mèo là yếu tố không thể thiếu, góp phần làm cho bức tranh quê trở nên sống động, đẹp một cách thanh bình: “Ông lão nằm chơi ở giữa sân/ Tàu cau lấp loáng ánh trăng ngân/ Thằng cu đứng vịn bên thành chõng/Ngắm bóng con mèo quyện dưới chân” (Trăng hè). Sau này, vẻ đẹp ngộ nghĩnh của chú mèo trong những câu thơ giàu họa tính còn được gặp lại trong thơ Ngô Văn Phú: “Gió cù khe khẽ anh mèo mướp/ Rủ đàn ong mật đến thăm hoa” (Gió). 

Thơ thiếu nhi về chú mèo không thể không nhắc đến bài lục bát bốn câu nổi tiếng của Phan Thị Vàng Anh: “Hôm nay trời nắng chang chang/Mèo con đi học chẳng mang thứ gì. Chỉ mang một chiếc bút chì. Và mang một mẩu bánh mì con con” (Mèo con đi học). 

Nhưng những câu thơ khắc khoải nhất về mèo vẫn phải là những câu đi sâu vào thế giới nội tâm của con người chứ không chỉ giản đơn dừng lại ở miêu tả sự vật. Bình Nguyên Trang trong nỗi nhớ về mẹ đã không quên nhắc đến con mèo tam thể như một người bạn an ủi tâm tình trong lúc cô đơn: “Có thể bao năm một thứ duy nhất còn/An ủi mẹ là chú mèo tam thể/Nó già quá nó nương tựa mẹ/Trong hiu hắt ngày tàn mẹ có nó làm vui” (Thư gửi mẹ). 

Thơ của Giáng Vân và Đoàn Mạnh Phương đều nhắc đến mèo hoang với những trống trải cô đơn rợn ngợp, dường như là một đợi chờ vô vọng, dường như là một sợ hãi hoang mang: “Đêm trú ngụ trong hồn máu ứa/ Đêm thánh thiện hát ca. Đêm nức nở/ Lũ mèo hoang gào lên. Ngõ tối. Rêu mờ” (Hoa thạch thảo – Giáng Vân), “Chuột đuổi nhau trên căn gác cũ/ Mắt mèo hoang lấp lánh như sao/ Gió như muốn gọi nhau thành bão/ Chém vào đêm những nhát ngọt ngào” (Đêm tối trời – Đoàn Mạnh Phương). 

Trong thơ tình, Nguyên Sa không hề ngần ngại khi buông bút: “Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm/ Như con mèo ngái ngủ trên tay anh” (Nga). Còn với Vi Thùy Linh, mèo là những khát khao ẩn ức đầy nhục cảm: “Lũ mèo đi rất êm vẫn làm người đàn bà giật mình/ Ôi tiếng kêu rên mùa động tình/ Làm những viên ngói rêu muốn bay lung tung khắp trời để trốn” (Lũ mèo thích đi trên mái nhà)

Mèo trong thi ca Việt Nam hiện đại, ngoài việc miêu tả như một thực thể thì thường thấy gắn với tâm sự của người nữ, hoặc đặt trong những so sánh tương quan với nữ giới nói chung. Nhưng có một lần thật đặc biệt, mèo xuất hiện như một ẩn dụ dành cho người đàn ông. Ở đó, người đọc thấy được một tình cha con đầy hy sinh và nhẫn nại, thầm lặng bước đi trong muôn vàn gian khó cuộc đời. Đó chính là mấy câu thơ của thi sĩ Hoàng Nhuận Cầm mà tôi muốn dùng để tạm khép lại bài viết này: “Ta đã đi như mèo trên phố vắng/ Gọi tên con như gọi các thiên thần/ Có một nốt chưa bao giờ con biết tới/ Là nốt buồn cha đã nuốt thay con” (Nhớ ngày mai). 

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).